Chương 1: Giới thiệu sơ lược về ngân hàng thương mại nhà nước Việt Nam và vấn đề quản trị rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại này Chương 2: Cơ sở lý thuyết và thực trạng quản trị rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại nhà nước Việt Nam Chương 3: Giải pháp quản trị rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại nhà nước Việt Nam Chương 4: Kết luận và gợi ý chính sách Tài liệu tham khảo Phụ lục LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI CÁC NHTMNN 2.1 Cơ sở lý thuyết quản trị rủi ro tín dụng 2.1 Khái niệm quản trị rủi ro tín dụng Theo Brown và Moles (2008) quản trị rủi ro tín dụng là quá trình nhận diện nguồn rủi ro, xác định phương pháp đo lường rủi ro cũng như quản lý quy trình cho vay nhằm đạt được điểm cân bằng giữa tăng trưởng tín dụng và rủi ro tín dụng. Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng (2000) nhận định rằng mục tiêu của quản trị rủi ro tín dụng là cố gắng đạt được tỷ suất lợi nhuận đã được điều chỉnh rủi ro ở mức cao nhất đồng thời duy trì rủi ro tín dụng trong phạm vi chấp nhận được. Fernando (2014) định nghĩa quản trị rủi ro tín dụng là quá trình kiểm soát những ảnh hưởng có thể xảy ra của rủi ro tín dụng. Quá trình này bao hàm một khung quản trị rủi ro chuẩn dựa trên các bước nhận diện, đánh giá, quản lý rủi ro.
Từ đây, có thể xác định nguyên nhân gây ra rủi ro, đo lường được mức độ rủi ro và đưa ra quyết định rủi ro được quản lý hoặc giảm thiểu bằng cách nào. Từ các định nghĩa trên có thể rút ra định nghĩa chung nhất về quản trị rủi ro tín dụng là một quy trình được ngân hàng xây dựng nhằm phòng ngừa, giảm thiểu, hạn chế những ảnh hưởng tác động bất lợi của rủi ro tín dụng đến hoạt động kinh doanh ngân hàng dựa trên các bước nhận diện, đo lường, kiểm soát, tài trợ rủi ro.2 Quy trình quản trị rủi ro tín dụng 2.1 Nhận diện rủi ro tín dụng Nhận diện rủi ro là quá trình xem xét, nghiên cứu tình hình hoạt động, môi trường kinh doanh của cả khách hàng và ngân hàng nhằm nhận diện và thống kê được tất cả các dấu hiệu rủi ro, không chỉ những dấu hiệu đã và đang xảy ra mà còn dự báo được những dấu hiệu mới có thể xuất hiện trong tương lai, trên cơ sở đó thực hiện các biện pháp kiểm soát và tài trợ rủi ro thích hợp. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 Theo (Phí Trọng Hiển, 2005) nhận diện rủi ro phải được xem xét từ hai phía cả ngân hàng và khách hàng. Về phía ngân hàng dấu hiệu tiềm ẩn rủi ro được thể hiện qua quy mô tín dụng, cơ cấu tín dụng, nợ quá hạn, nợ xấu và dự phòng rủi ro.
Một ngân hàng cho vay quá nhiều trong khi trình độ quản lý, khả năng thẩm định không đáp ứng được khối lượng công việc lớn như vậy tất yếu làm gia tăng nguy cơ xảy ra RRTD. Bên cạnh đó một ngân hàng có cơ cấu tín dụng quá tập trung cho vay vào một nhóm các công ty hoặc nhiều công ty trong cùng một ngành, khu vực địa lý sẽ có nguy cơ rủi ro nhiều hơn so với ngân hàng thực hiện tốt việc đa dạng hóa danh mục cho vay. Ngoài ra, nhìn vào báo cáo tài chính của một ngân hàng có tỷ lệ nợ xấu, tỷ lệ nợ quá hạn cũng như trích lập dự phòng cao đồng nghĩa với việc ngân hàng đang đối mặt với vấn đề rủi ro và nếu không có giải pháp kịp thời chắc chắn tỷ lệ này sẽ gia tăng, tình hình sẽ trở nên nghiêm trọng hơn. Đối với khách hàng, ngân hàng có thể nhận diện rủi ro từ báo cáo tài chính, tình hình hoạt động kinh doanh, các dấu hiệu liên quan đến giao dịch ngân hàng, nguồn thông tin từ bên thứ 3 và các vấn đề quản trị trong nội bộ khách hàng.
Nếu khoản vay chỉ xuất hiện một vài dấu hiệu rủi ro thì tình hình chưa nghiêm trọng nhưng nếu nhiều dấu hiệu đồng loạt xuất hiện ngân hàng nên xem xét thẩm định lại khoản vay. Các dấu hiệu từ báo cáo tài chính − Khách hàng trì hoãn nộp báo cáo tài chính cho ngân hàng − Doanh số bán hàng giảm hoặc tăng một cách bất thường − Tiền mặt của khách hàng không còn nhiều − Xuất hiện các khoản lỗ từ hoạt động kinh doanh, đầu tư Các dấu hiệu liên quan đến giao dịch ngân hàng − Dòng tiền qua tài khoản tại ngân hàng tăng hoặc giảm đột ngột − Xin gia hạn hoặc đảo nợ nhiều lần − Vay quá mức nhu cầu sản xuất kinh doanh − Không trả nợ gốc và lãi đúng ngày quy định LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 Các thay đổi trong thái độ của khách hàng − Khách hàng luôn lảnh tránh hoặc trì hoãn trong việc thực hiện các yêu cầu của ngân hàng − Thái độ khách hàng kém thân thiện hoặc thân thiện quá mức Những dấu hiệu liên quan đến nội bộ khách hàng − Thay đổi cơ cấu quản trị, ban lãnh đạo công ty − Nhân viên chủ chốt xin nghỉ − Thường xuyên thuyên chuyển hoặc giảm số lượng nhân sự Những dấu hiệu khác − Có nhiều thông tin xấu về khách hàng trên thị trường − Mất nhiều khách hàng lâu năm hoặc nhà cung cấp chính − Các quy định mới được ban hành gây bất lợi cho công ty − Sản phẩm tiêu thụ chậm, hàng tồn kho ngày càng tăng − Nhiều cổ đông bán cổ phiếu công ty ra thị trường 2.2 Đo lường rủi ro tín dụng Đo lường rủi ro tín dụng là việc sử dụng mô hình thích hợp nhằm đo lường xác suất xảy ra rủi ro đối với các khoản vay, từ đó có thể đề ra những biện pháp kiểm soát phù hợp với từng mức rủi ro. Mô hình chấm điểm và xếp hạng tín dụng khách hàng Đây là mô hình được xây dựng nhằm đo lường khả năng hoàn trả nợ vay của từng khách hàng cụ thể thông qua quá trình đánh giá bằng thang điểm các chỉ tiêu tài chính và phi tài chính. Mỗi chỉ tiêu sẽ có một mức điểm tương ứng có thể là 20, 40, 60, 80, 100 được gọi là điểm ban đầu.
Sau đó nhân điểm ban đầu với trọng số cụ thể với trọng số là mức độ quan trọng của từng chỉ tiêu xét trên khía cạnh ảnh hưởng của nó đến khả năng trả nợ của khách hàng. Tổng điểm đạt được sau khi nhân điểm ban đầu với trọng số sẽ làm cơ sở phân chia khách hàng thành các hạng AAA, AA, A, BBB, BB, B, CCC, CC, C, D. Tương ứng với từng mức hạng của LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 12 khách hàng ngân hàng sẽ có chính sách cấp tín dụng phù hợp (Trầm Thị Xuân Hương, 2009). Mô hình định tính về rủi ro tín dụng - mô hình 6C Theo (Brown và Moles, 2008) trọng tâm của mô hình này là xem xét liệu KH có thiện chí và khả năng thanh toán các khoản vay khi đến hạn hay không.
Cụ thể bao gồm sáu yếu tố sau: Tư cách người vay (character): được thể hiện qua mục đích xin vay rõ ràng, có thiện chí trả nợ khi đến hạn, trung thực trong việc cung cấp các báo cáo tài chính. Để xác định được các tính cách này NH nên khảo sát tình hình thanh toán của KH trong quá khứ thông qua trung tâm CIC hoặc trao đổi kinh nghiệm với những NH đã có quan hệ tín dụng với KH. Ngoài ra NH cũng có thể phỏng vấn trực tiếp để hiểu thêm về KH. Năng lực của người vay (capacity): KH đi vay phải có năng lực pháp luật dân sự và hành vi dân sự.
Nếu người đi vay là một pháp nhân thì phải có giấy phép đăng ký kinh doanh, quyết định thành lập, quyết định bổ nhiệm…Nếu người đi vay là cá nhân thì phải trên 18 tuổi và đủ khả năng nhận biết mọi hành động của mình. Ngoài ra KH phải chứng minh năng lực trả nợ của mình cũng như khả năng tạo ra nguồn trả nợ cho NH. Thu nhập của người vay (cash): thu nhập của người vay cũng chính là nguồn trả nợ có thể đến từ lợi nhuận mang lại khi dự án đi vào hoạt động, doanh thu bán hàng, thanh lý tài sản. Để đánh giá nguồn trả nợ của KH, NH có thể căn cứ vào thu nhập trong quá khứ cũng như hiện tại của KH, lịch sử tăng trưởng về doanh thu và lợi nhuận… Bảo đảm tiền vay (collateral): đây là nguồn tài sản thứ hai có thể dùng để trả nợ vay cho ngân hàng.
Các điều kiện (conditions): khi điều kiện kinh tế vĩ mô thay đổi, môi trường kinh doanh của KH thay đổi sẽ ảnh hưởng như thế nào đến khoản vay. Mặt LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 13 hàng sản xuất, ngành nghề hoạt động của KH có tiềm năng phát triển không. Các NH cần đánh giá kỹ càng những điều kiện này để quyết định có nên cấp tín dụng không. Khả năng kiểm soát (control): là khả năng NH có thể kiểm soát được đối với KH về mục đích sử dụng vốn, hiệu quả sử dụng vốn.3 Kiểm soát, phòng ngừa rủi ro tín dụng Kiểm soát, phòng ngừa RRTD là việc sử dụng các biện pháp, kỹ thuật, công cụ khác nhau nhằm ngăn ngừa, né tránh hoặc giảm thiểu những tổn thất, những ảnh hưởng không mong đợi có thể xảy ra với NH.
Có rất nhiều công cụ giúp ngân hàng kiểm soát rủi ro, một trong số đó là nghiệp vụ bán các khoản cho vay. Khi NH A thực hiện bán khoản vay cho NH B thì NH B sẽ thay NH A làm chủ nợ cũng như chấp nhận mọi rủi ro có thể phát sinh từ khoản vay này. Mục đích chính của nghiệp vụ này giúp cho NH đa dạng hóa được danh mục cho vay tránh tập trung vào một ngành nghề, lĩnh vực nhất định. Ngoài ra, khi ngân hàng muốn thay đổi cơ cấu tài sản, giảm hoạt động cho vay, tăng hoạt động dịch vụ để thu phí thì sử dụng nghiệp vụ này sẽ đem lại hiệu quả.
Thêm nữa, theo nguyên tắc số tiền NH huy động được phải dự trữ một phần tại NHTW và phần dự trữ này không được hưởng lãi do đó muốn giảm phần dự trữ không sinh lãi này NH có thể bán các khoản vay ra, lượng tiền thu được trả cho người gửi kéo theo dự trữ sẽ giảm xuống.