CHƯƠNG 1 TONG QUAN VE NGAN HANG, TEIN DUNG NGAN HANG, DICH VU NGAN HANG VA RUIRO TIN DUNG 11. TONG QUAN VE NGAN HANG: “ Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực biện toàn hộ hoại động ngân hãng và các hoạt động kinh doanh khác có hên quan”, Theo tính chất và mục tiêu hoạt động các loại hình ngân hàng bao gồm: ngắn hàng thương mại, ngân hàng phát triển, ngần hàng đầu từ, ngân hãng chính sách, ngần hàng hợn tác xã và các loại hình ngân hàng khác” “Ngân hàng thương mại là một loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng tà các hoạt động kinh doanh khác có liên quan. Hoạt động ngân hàng là một hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngần hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiễn gởi và sử dụng nó để cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán” (Theo Luật NHNN và Luật các tổ chức tín dụng sửa đổi và bổ sung năm 2002) Như các doanh nghiệp khác trong nến kinh tế, Ngân hàng thương mại kinh doanh cũng vì mục đích lợi nhuận 1.1 CÁC CHỨC NĂNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI NGÀY NAY Cũng với sự phát triển của sẵn xuất, bia thông hàng hoá và tiển tệ, sự phái triển của các chế độ xã hội, chức năng của các ngân hàng ngày càng thêm phong phú, hoàn thiện. Hoạt động ngân hàng ngày căng phát triển cả về chất và lượng.
Tuy nhiền, xét về bản chất, có thể nêu lên các chức năng cơ bản sau đây: 1.111 NGÂN HÃNG LÀ LOẠI HÌNH TRƯNG GIAN TÀI CHÍNH LÀM NHIỆM VỤ THU HÚT TIỀN GỞI VÀ TIỀN TIẾT KIỆM TRONG NÊN KT. Trong nến kinh tế hiện đại có nhiều loại định chế tài chính khác nhau ra đời, song chức năng thu hút tiễn gởi, tiền tiết kiệm và đặc biệt là thu hút tiên gởi không kỳ -, hạn luôn là chức năng đặc trưng của các ngân hàng, Trong hầu hết các hệ thống dường như chỉ có các ngân hàng mới được thực hiện việc mở tài khoản tiền gửi không kỳ hạn 6 Các cá nhân, tổ chức xã hội, doanh nghiếp và cơ quan nhà nước đếu có thể mở tài khoắn qua ngân hàng để gởi món tiền mà mình đang sở hữu nó. Nhằm trước hết là để an toàn, tiện lợi do không phải cất giữ nó, không sợ mất mát, hư hồng, bị cướp giật và hữn nữa, qua đó có thể nhận được lãi suất cho tiền gối đó đồng thời được hưởng các tiện nghĩ về thanh toán của ngân hang và các dịch vụ khác. Tất nhiên, nếu chỉ xét trên phương diện người tiết kiệm được hưởng lãi suất hay các món tiến thưởng đưới những hình thức khác mà khi nhượng lại quyền sử đụng vốn tiên tệ của mình thì rõ rằng những người gởi tiết kiệm không nhất thiết phải gởi tiễn vào ngân hàng mà thay thế vào đó họ có thể mua trái phiếu hay các công cụ đầu tư vốn khác trên thị trường do các tổ chức không phải là ngân hàng phát hành.
Nhưng rõ rằng đó không phải là cách có lợi nếu xét trên phương điện rồi ro mất vốn hay trên phương điện đáp ứng nhu cầu về tiên mặt và việc được hưởng các địch vụ thanh toán đơ ngân hàng thực hiện, Thực tiễn cho thấy, trong đa phần cấc hệ thống tài chính trên thể giới dủ lượng tiết kiệm được huy động qua khu vực ngân hàng luôn lớn hơn nhiều lần so với các con đường tài chính khác 1.2 NGÂN HÀNG LÀ LOẠI HÌNH TRUNG GIAN TÀI CHÍNH LÀM NHIỆM VỤ CUNG ỨNG TÍN DỤNG CHO CÁC TÁC NHÂN TRONG NÊN KINH TẾ. Việc tìm kiếm và cấp tía đụng cho những khách hàng đáng tin cây là một hoạt động sinh lời chủ yếu và là một chức năng quan trọng nhất của nên kinh tế hiện đại. Các ngân hàng ngày nay luôn coi việc cấp tín dụng cho khách hàng vến là hoạt động truyền thống, là thế mạnh của họ. Tin dụng do ngân hàng cung cấp bao gém nhiều chủng loại, dưới nhiều hình thức khác nhau: các khoản cho vay ứng trước trên tai khoản, cho vay ngắn hạn, trung và đài hạn bằng tiền, cho vay chiết khấu, cho vay theo dự án và lín dụng thuê mưa.
Các ngân hằng đã huy động được tín dụng nhần rỗi trong nên kinh tế qua việc nhận tiền gởi hoặc ổi vay và những đồng vến đó được ngân hàng đem đi cho vay phục vụ nhu cầu chỉ tiêu hay sản xuất kinh đoanh. nguồn vốn tín dụng mà ngân hàng cấp cho những khách hàng doanh nghiệp luôn là nguồn vốn bên ngoài quan trọng nhất đối 7 các khâu trong quá trình tải sẵn xuất trong các ngành công nghiệp, nồng nghiệp, thương mại và dịch vụ và làm tăng nhịp độ của quá trình tái sản xuất. Chính từ quá trình này mà các ngân hàng đã góp phần đẩy mạnh đầu tư, góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển cũng như góp phần cải thiện đời sống dân cư. Mặc dù các ngân hàng đầu tr vào chứng khoán và cũng thưởng được gọi là hoạt động đầu tư chứng khoán và cũng thường được xem xét tách biệt với hoạt động cấp tin dụng thông thường.
Tuy nhiên, về mặt bản chất, tín dụng ngân hàng được cấp ra dudi đạng những khoản ứng trước hay những khoắn cho vay ngắn hạn hay những khoắn cho vay đài hạn hoặc đưới dạng chiết khấu giấy tờ có giá cho các khách hàng doanh nghiệp và cá nhân không khác gì so với những khoắn vốn mà các ngân hàng đầu tư vàp các chứng khoán nợ. Khi các ngần hãng nắm giữ chứng khoản nợ do Chính phủ hoặc doanh nghiệp phát hành thì thực ra nó đã tạo ra bay cấp cho Chính phủ hoặc các doanh nghiệp một nguồn tín dụng. Đối với các doanh nghiệp, nguồn vốn mà chúng nhận được từ các ngân hàng cũng được sử dụng cho các nhu cầu về cơ bản không khác nhiều so với những nguồn tín dụng được cấp theo phương thức cho vay thông thường, Đối với Chính phu thì nguồn vốn mà họ nhận được khí bán chứng khoản nợ cho các ngân hàng nó được dùng để tài trợ cho các dự án cơ sở hạ tâng, bảo đầm quốc phòng và an ninh cũng như tài trợ cho lĩnh vực cung cấp dịch vụ y tế va giáo dục. Việc phát hành chứng khoán nợ của Chính Phú cho phép tránh được việc tài trợ cho thâm hụt ngân sách bằng việc phát hãnh tiền.
Rõ rằng, đủ theo kiểu nào thì vốn do các ngân hàng tài trợ cho nên kinh tế luôn mang lại lợi ích hiển nhiên, 1. CÁC NH LÀ LOẠI HÌNH TRUNG GIAN TÀI CHÍNH CHUYÊN CUNG CẤP DỊCH VỤ THANH TOÁN CHO CÁC TÁC NHÂN TRONG NÊN KINH TẾ: Theo các quy định luật pháp ở hầu hết các nước thường chỉ các ngân hàng mới được phép mở tài khoản thanh toán hay các tài khoản giao địch cho khách hằng và không mội định chế nào được phép làm điều này. Hoạt động chỉ trả hộ, nhận tiến hộ cho khách hàng hoặc đôi khi cả việc cho vay ứng trước cũng được thực hiện trên chính 8 Trong các hệ thống NH hiện đại, khi adi cdc ngan hang cung cấp dịch vụ thanh toán cho khách hàng của họ thì đồng thời cũng cổ nghĩa nói về việc chúng tham gia tạo nên một cơ chế thanh toán cho các tác nhân trong nền kinh tế, một cơ chế qua đó vốn được vận động theo những hiểng khác nhau nhờ sự thực hiện, thúc đẩy của các ngân bằng. Đó là những luỗng vốn mà ngân hàng thu về giúp cho những người bán hàng hóa dịch vụ hoặc luống vốn mà NH trả giúp cho người mua.
Các Ngân hàng cung cấp các dịch vụ thanh toán cho khách hàng và qua đó chúng thu được lợi ích dưới hình thức những khoản thủ lao gọi là phí thanh toán. Hoạt động thanh toán của ngân hàng tạo ra mội sự tiện lợi cho mọi người, Qua dịch vụ này, khách hàng có thể thực hiện việc chỉ trả cho chủ nợ của mình một cách nhanh chóng, an toàn, đẩy nhanh tốc độ quay vòng của vốn tiễn tệ, phục vụ lưu thông hàng hóa được thuận lợi, nhất là các thương vụ lớn, cần phải chỉ trả một khoản tiễn lớn. ? Trên phạm vi quốc gia, sự phát triển của hệ thống thanh toán là một điểm rõ ràng nhất thể hiện trình độ phát triển của hệ thống tài chính của quốc gia đó, Theo đà phát triển, việc sử dụng những công cụ thanh toán không dùng tiễn mặt ngày càng trở nên phổ cập hơn việc thanh toán bằng tiên mặt. Đi liên với chùng là sự ấp dụng các hệ thống kỹ thuật thanh toán hiện đại với tốc độ cao, nhanh chồng an toàn và tiện lợi bao gầm trong đó cả hệ thống thanh toán điện tử đùng séc và không dùng séc, hệ thống mạng tự động và các hệ thống thẻ các loại, 1.
NHỮNG CHỨC NĂNG KHÁC : Ngoài các chức năng cơ bản nêu trên, các NH cũng đồng thời đấm nhận nhiều chức năng khác, một số trong đó là những chức năng truyền thống, mội số chức năng khác thể xem như là những sự phát triển của các chức năng cơ bẩn cho phù hợp với các điều kiện kinh đoanh thay đổi nhanh chóng trong xã hội hiện nay, Những chức năng như thế phải kế đến gồm: Chức năng tạo tiền, cũng cấp dịch vụ ủy thác, bảo quần an toàn vật có giả trị và các chức năng khác như mỗi giới, tư vấn. Chức năng tạo và hủy tiên của các ngân hàng không độc lập mà trái lại có liên quan mật thiết với các chức năng huy động tiên gửi, vay muướợn và cho vay của các 9 ngần hàng khi được xem xét trong cả mô hình tạo và hủy tiên và vai trò của nó với nên kinh tế. Trong các nền kinh tế hiện đại, khái niệm tiễn hay lượng tiền cung ứng theo nghĩa rộng bao gầm cả tiến giấy đang lưu hành, tiền gửi không kỳ hạn và các tài sản lưu hoạt cao khác. Lượng cung tiễn này luôn cần phải được duy trì ở mức vừa đủ và không quá thiếu hụt hoặc quá thừa, vì khi điểu đó xảy ra Ở phạm vi đủ rộng hoặc sẽ gây nên sự đình trệ trong trao đổi và sản xuất hoặc pay ra tinh trạng lạm phát và hỗn loạn trong nền kinh tế, Thông thường việc kiểm soát lượng cung tiễn nhằm đạt tới các mục tiếu kinh tế vĩ mô sẽ do Ngân hàng Trung đơng đấm nhận, NHTW thực hiện điều đó băng chính sách tiền tệ.
Cả trong xây dựng và thực hiện chính sách này các ngân hàng luôn đóng vai rò quan trọng then chốt, với py cách là một kênh dẫn thiết yếu mà qua đó tến cung ứng sẽ được bơm thêm và hoặc rút ra khói quá trình lưu thông.