CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Khái quát về rủi ro tín dụng Ngân hàng 1. Khái niệm rủi ro tín dụng ngân hàng Đến nay, cũng có rất nhiều cách hiểu khác nhau về rủi ro tín dụng, như: Theo A.Lange [14] định nghĩa: “Rủi ro tín dụng là khoản lỗ tiềm tàng khi ngân hàng cấp tín dụng cho một khách hàng, nghĩa là khả năng các luồng thu nhập dự tính mang lại từ khoản cho vay của ngân hàng không thể thực hiện đầy đủ về cả số lượng và thời hạn”. Koch [12] cho rằng: “Rủi ro tín dụng là sự thay đổi tiềm ẩn của thu nhập thuần và thị giá của vốn xuất phát từ việc vốn vay không được thanh toán hay thanh toán trễ hạn” Theo Ủy ban Basel [2]:“Rủi ro tín dụng là khả năng mà khách hàng vay hoặc bên đối tác không thực hiện được các nghĩa vụ của mình theo những điều khoản đã cam kết”.
Theo thông tư số 02/2013/TT-NHNN [9]: “Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng là tổn thất có khả năng xảy ra đối với nợ của ngân hàng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết”. Rủi ro tín dụng là rủi ro phức tạp nhất, quản lý và phòng ngừa khó khăn nhất. Nó đòi hỏi ngân hàng phải có những giải pháp đồng bộ, hữu hiệu mới có thể hạn chế, ngăn ngừa bớt rủi ro, giảm thiểu những thiệt hại có thể xẩy ra. Về cơ bản, rủi ro tín dụng xảy ra khi khách hàng vay vốn không có khả năng và ý chí trả nợ, loại trừ một số ít khách hàng lừa đảo.
Đối với đa số khách hàng dù có tình hình sản xuất kinh doanh tốt, có tình hình tài chính lành mạnh và ý thức thanh toán đầy đủ cho ngân hàng song vẫn có thể xảy ra những tình huống bất khả kháng dẫn 8 đến không thể trả nợ đúng hạn cho ngân hàng. Vì vậy, có thể nói rằng rủi ro tín dụng là khách quan, tồn tại song song với hoạt động tín dụng ngân hàng. Một cách logic, rủi ro tín dụng là không thể loại bỏ mà các ngân hàng chỉ có thể hạn chế và chấp nhận rủi ro tín dụng ở mức thấp nhất mà thôi. Để hạn chế rủi ro tín dụng, ngoài những cải tiến và hợp lý hóa về quy trình cho vay và thu nợ,…các ngân hàng hiện đại thường gia tăng các dịch vụ hỗ trợ tín dụng và đa dạng hóa sử dụng vốn nhằm giảm mức độ tập trung vào hoạt động tín dụng.
Ngoài ra, ở trình độ cao hơn, các ngân hàng sẽ xây dựng mô hình phân phối sử dụng vốn sao cho rủi ro tín dụng có thể xảy ra thì tổn thất của ngân hàng luôn là nhỏ nhất. Từ những phân tích trên, trong phạm vi nhất định, rủi ro tín dụng có thể hiểu: là khả năng xẩy ra những tổn thất ngoài dự kiến cho ngân hàng, do khách hàng vay không trả đúng hạn, không trả hoặc không trả đầy đủ vốn và lãi dẫn đến làm giảm khả năng thanh toán, giảm hiệu quả kinh doanh, gây thất thoát vốn và có thể làm cho ngân hàng lâm vào tình trạng phá sản. Phân loại rủi ro tín dụng ngân hàng Đối với hệ thống ngân hàng, thì việc phân loại RRTD có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc thiết lập chính sách, quy trình, thủ tục và cả mô hình tổ chức quản lý, điều hành nhằm bảo đảm xác định đầy đủ các yếu tố gây ra rủi ro. Sau đây là một số cách phân loại rủi ro tín dụng [3], [7],: * Phân loại theo phương diện quản lý Theo hình thức này, rủi ro tín dụng được phân thành: - Rủi ro tín dụng có thể kiểm soát được: Là loại RRTD mà ngân hàng có thể phần nào dự đoán được nguyên nhân dẫn tới rủi ro đó, ước tính được mức độ ảnh hưởng, dự kiến được thời gian chúng phát sinh, tổn thất khi rủi ro xẩy ra và từ đó có biện pháp hợp lý để phòng ngừa, hạn chế ở mức thấp nhất.
Những RRTD thuộc loại này thường xuất phát từ nguyên nhân chủ quan, có thể là do khách hàng hoặc chính bản thân ngân hàng gây ra cho mình, thông thường là xuất phát từ phía khách hàng. - Rủi ro tín dụng không thể kiểm soát được (hay còn gọi là rủi ro bất khả kháng): Là loại RRTD mà các ngân hàng không thể dự đoán được, không biết chúng sẽ xảy ra 9 vào thời điểm nào, cũng không thể tính toán được một cách chính xác nhất những ảnh hưởng và thiệt hại mà chúng gây ra. Những RRTD loại này thường xuất phát từ những nguyên nhân khách quan, mà chủ yếu là do những bất lợi về các yếu tố thuộc môi trường vĩ mô gây ra, như: Môi trường tự nhiên (gây ra hạn hán, lũ lụt, mất mùa, hỏa hoạn), Môi trường kinh tế (khủng hoảng kinh tế, lạm phát…), Môi trường pháp lý (luật pháp, cơ chế, chính sách thay đổi…) * Phân loại theo tính chất của rủi ro tín dụng Theo hình thức này, rủi ro tín dụng được phân thành: - Rủi ro sai hẹn: Là rủi ro khi người vay vốn không hoàn trả gốc và lãi tiền vay đúng hẹn như trong hợp đồng tín dụng. - Rủi ro mất vốn: Là rủi ro khi người vay vốn không hoàn trả được vốn gốc và lãi vay một cách đầy đủ.
* Phân loại theo đối tượng sử dụng vốn vay Theo hình thức này, rủi ro tín dụng được phân thành: - Rủi ro khách hàng cá thể: Là rủi ro khi khách hàng là những cá nhân vay vốn không trả đúng hạn hoặc không trả vốn vay và lãi cho ngân hàng. Thông thường số lượng khách hàng là rất nhiều. Tuy nhiên, mức độ rủi ro của từng khoản vay đơn lẻ là thấp, mức độ ảnh hưởng của việc mất khả năng thanh toán của từng khoản vay là nhỏ, loại hình giao dịch, cơ cấu giao dịch dễ quản lý. - Rủi ro khách hàng tổ chức: Là rủi ro khi các tổ chức, doanh nghiệp không trả hoặc trả không đúng hạn cả vốn gốc và lãi vay cho ngân hàng.
Tùy theo quy mô của tổ chức kinh tế là lớn hay nhỏ thì mức độ ảnh hưởng của rủi ro các khoản vay vào đối tượng này sẽ được đánh giá ở mức vừa hay lớn và tác động của nó đến khả năng trả nợ ngân hàng là vừa hay cao. * Phân loại theo phạm vi ảnh hưởng Theo hình thức này, rủi ro tín dụng được phân thành: - Rủi ro giao dịch đơn lẻ: Được hiểu là rủi ro gắn với một giao dịch đơn lẻ nào đó, cụ thể như: rủi ro của một khoản vay đối với một khách hàng. Loại rủi ro này 10 gắn liền và xuất phát chủ yếu do đặc điểm cá biệt của khoản vay hoặc khách hàng vay vốn. - Rủi ro hệ thống: Được hiểu là rủi ro tín dụng gắn liền với nhóm khách hàng, một ngành hàng, thậm chí với cả một nền kinh tế.
Rủi ro hệ thống mang tính chất vĩ mô và liên quan nhiều đến việc quản lý danh mục cho vay. * Phân loại theo giai đoạn phát sinh Theo hình thức này, rủi ro tín dụng được phân thành: - Rủi ro trong thẩm định: Là rủi ro do ngân hàng đánh giá sai khách hàng - Rủi ro khi cho vay: Là rủi ro khi vốn vay được sử dụng sai mục đích, làm cho khoản vay không phát huy hiệu quả. - Rủi ro trong quản lý, thu hồi nợ: Là rủi ro phát sinh do quá trình giám sát thu hồi nợ, không theo dõi được dòng tiền của khách hàng để khách hàng sử dụng vốn quay vòng vào việc khác không thu được nợ đúng kỳ hạn, hoặc không thu được nợ. * Phân loại theo sản phẩm tín dụng Theo hình thức này, rủi ro tín dụng được phân thành: - Rủi ro sản phẩm tín dụng nội bảng: Là RRTD phát sinh từ những khoản cho vay, chiết khấu, thấu chi được hạch toán trong nội bản.
- Rủi ro các sản phẩm phái sinh: Là RRTD phát sinh từ những sản phẩm ngoại bảng trong tài trợ thương mại (như: mở L-C, bảo lãnh). Mỗi ngân hàng tùy vào mục tiêu, định hướng kinh doanh mà xác định khách hàng mục tiêu khác nhau, qua đó có cách phân loại rủi ro của riêng ngân hàng. Từ việc phân loại RRTD sẽ giúp ngân hàng có nhận định, đánh giá, dự đoán về những rủi ro phát sinh trong hoạt động tín dụng, để có thể đưa ra được mô hình quản lý rủi ro tín dụng phù hợp. Nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng 1.
Nguyên nhân từ phía khách hàng Đây là một trong những nguyên nhân chính gây ra rủi ro tín dụng cho ngân hàng.: * Đối với khách hàng là cá nhân, rủi ro tín dụng có thể xảy ra do: 11 + Người vay bị thất nghiệp, mất việc làm, do vậy không có khoản thu nhập để trả nợ. + Người vay gặp rủi ro bất thường trong cuộc sống, như: tai nạn, ốm đau… + Khách hàng cố tình lừa ngân hàng, sử dụng tiền vay không đúng mục đích, chi tiêu quá mức. + Khả năng hoạch định phương án kinh doanh, phương án trả nợ không chính xác, còn mang tính chủ quan. * Đối với khách hàng là doanh nghiệp, rủi ro tín dụng xảy ra do: + Năng lực quản lý kinh doanh của doanh nghiệp yếu kém, chiến lược kinh doanh không được hoạch định, quản lý tốt, như: Phương án kinh doanh đi vào phá sản, điều này làm ảnh hưởng đến nguồn trả nợ.
Hoặc doanh nghiệp không đủ vốn kinh doanh, cơ cấu vốn không hợp lý, đầu tư quá mức vào tài sản cố định mà không quan tâm đến hiệu quả kinh tế, đầu tư khi chưa xác định có đủ nguồn vốn tài trợ. Doanh nghiệp sử dụng nguồn vốn ngắn hạn để đầu tư dài hạn, gây mất cân đối, dẫn đến khả năng thanh toán hiện thời giảm, rủi ro trong thanh toán các khoản vay ngắn hạn tăng. + Doanh nghiệp không tuân thủ các cam kết, không có thiện chí trong việc trả nợ vay, cố tình lừa đảo để chiếm dụng vốn ngân hàng, như: Nhiều trường hợp khách hàng chủ ý cung cấp các Báo cáo tài chính sai lệch, làm cho ngân hàng đánh giá sai về năng lực tài chính của họ, thậm chí có khách hàng có đủ năng lực tài chính để thực hiện các điều khoản cam kết trong hợp đồng nhưng vẫn chây ỳ không chịu thực hiện nghĩa vụ. Khi đi vay vốn, các doanh nghiệp đều có mục đích rõ ràng, phương án kinh doanh cụ thể và khả thi.