phần mở đầu và phần kết luận, luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Tổng quan về rủi ro tín dụng và quản trị rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng. Chƣơng 2: Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng tại ngân hàng TMCP Đầu tƣ và Phát triển Việt Nam. Chƣơng 3: Các giải pháp nâng cao công tác quản trị rủi ro tín dụng tại ngân hàng TMCP Đầu tƣ và Phát triển Việt Nam. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 CHƢƠNG 1.
TỔNG QUAN VỀ RỦI RO TÍN DỤNG VÀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG 1. RỦI RO TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG 1. Khái niệm về rủi ro Trong cuộc sống hàng ngày, trong lao động sản xuất kinh doanh có những sự cố bất ngờ, ngẫu nhiên xảy ra không thể báo trƣớc đƣợc, những tình huống bất ngờ nhƣ vậy gọi là rủi ro. Khi nói đến rủi ro ngƣời ta thƣờng nghĩ đến điều không tốt lành hoặc một thiệt hại, tổn thất nào đó về vật chất hữu hình hoặc vô hình bất ngờ mang đến do những nguyên nhân khách quan hoặc chủ quan gây nên.
Nhƣ vậy: Rủi ro là sự việc xảy ra ngoài ý muốn chủ quan của con ngƣời, đem lại những hậu quả mà ngƣời ta không thể dự đoán đƣợc. Tuy khó tìm đƣợc một định nghĩa rủi ro hoàn hảo song có thể biết đƣợc rằng rủi ro thƣờng có hai đặc tính sau: - Thứ nhất là biên độ rủi ro: là sự thiệt hại từ rủi ro gây ra ở mức nào. - Thứ hai là tần số xuất hiện của rủi ro là nhiều hay ít. Là một doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ, ngân hàng thƣơng mại cũng gánh chịu các rủi ro do các tác động của môi trƣờng vi mô và vĩ mô gây nên cũng nhƣ các doanh nghiệp khác.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Rủi ro trong hoạt động ngân hàng Rủi ro trong hoạt động ngân hàng là những biến cố không mong đợi khi xảy ra dẫn đến sự tổn thất về tài sản của ngân hàng, giảm sút lợi nhuận thực tế so với dự kiến hoặc phải bỏ ra thêm một khoản chi phí để có thể hoàn thành đƣợc một nghiệp vụ tài chính nhất định. Rủi ro là một yếu tố khách quan cho nên ngƣời ta không thể nào loại trừ đƣợc hẳn mà chỉ có thể hạn chế sự xuất hiện của chúng cũng nhƣ những tác hại do chúng gây nên Các nguyên nhân dẫn đến rủi ro trong hoạt động ngân hàng: có ba nhóm nguyên nhân - Những nguyên nhân thuộc về năng lực quản trị của ngân hàng o Do không quản lý chặt chẽ thanh khoản dẫn đến thiếu khả năng chi trả o Cho vay và đầu tƣ quá liều lĩnh, cụ thể trong cho vay ngân hàng tập trung nguồn vốn quá nhiều vào một doanh nghiệp hoặc một ngành kinh tế nào đó, trong đầu tƣ ngân hàng chỉ chú trọng đầu tƣ vào một loại chứng khoán có rủi ro cao. o Do thiếu am hiểu thị trƣờng, thiếu thông tin hoặc phân tích thông tin không đầy đủ dẫn đến cho vay hoặc đầu tƣ không hợp lý.
o Do hoạt động kinh doanh trái pháp luật, tham ô… o Do cán bộ ngân hàng thiếu đạo đức nghề nghiệp, yếu kém về trình độ nghiệp vụ. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 - Các nguyên nhân thuộc về phía khách hàng o Do khách hàng vay vốn thiếu năng lực pháp lý. o Sử dụng vốn vay sai mục đích, kém hiệu quả. o Do kinh doanh thua lỗ liên tục, hàng hóa không tiêu thụ đƣợc.
o Quản lý vốn không hợp lý dẫn đến thiếu thanh khoản. o Chủ doanh nghiệp vay vốn thiếu năng lực điều hành, tham ô, lừa đảo. - Các nguyên nhân khách quan có liên quan đến môi trƣờng hoạt động kinh doanh o Do thiên tai, hỏa hoạn. o Tình hình an ninh chính trị trong nƣớc, trong khu vực không ổn định.
o Do khủng hoảng hoặc suy thoái kinh tế, lạm phát, mất thăng bằng cán cân thanh toán quốc tế dẫn đến tỷ giá hối đoái biến động bất thƣờng. o Môi trƣờng pháp lý không thuận lợi, lỏng lẻo trong quản lý vĩ mô. Rủi ro tín dụng 1. Khái niệm Tín dụng là quan hệ xã hội, quan hệ sử dụng vốn lẫn nhau giữa chủ thể kinh tế này với chủ thể kinh tế khác trên nguyên tắc có hoàn trả.
Xuất phát từ chức năng của ngân hàng thƣơng mại, tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng bằng tiền giữa bên cho vay (ngân hàng) và bên đi vay (cá nhân, doanh nghiệp và các chủ thể kinh tế khác) trong đó bên cho vay ứng trƣớc vốn bằng tiền cho LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vốn gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán. Rủi ro tín dụng là loại rủi ro phát sinh trong quá trình cho vay của ngân hàng, biểu hiện trên thực tế qua việc khách hàng không trả đƣợc nợ hoặc trả nợ không đúng hạn cho ngân hàng. Rủi ro tín dụng còn đƣợc gọi là rủi ro mất khả năng chi trả và rủi ro sai hẹn. Rủi ro tín dụng trong hoạt động Ngân hàng của tổ chức tín dụng, theo quy định tại Điều 2 Quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng ban hành theo Quyết định số 493(493/2005/QĐ- NHNN) ngày 22/4/2005 của Thống đốc NHNN là “Rủi ro tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động Ngân hàng của tổ chức tín dụng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết”.
Nhân tố ảnh hưởng Các nhân tố thuộc về ngân hàng - Trình độ chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp của cán bộ tín dụng: Chất lƣợng cán bộ tín dụng bao gồm trình độ chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp. Đây là những nhân tố đầu tiên, có ảnh hƣởng trực tiếp đến công tác quản lý rủi ro tín dụng của NHTM. - Các công cụ quản trị rủi ro tín dụng của ngân hàng + Quy trình tín dụng: Quy trình tín dụng có ý nghĩa rất quan trọng trong việc hạn chế sai sót khi cho vay và giảm thiểu khả năng xảy ra rủi ro tín dụng. Quy trình tín dụng sẽ quy định rõ từng khâu công việc và trách nhiệm cụ thể của các cán bộ có liên quan.
+ Chính sách tín dụng: Kinh nghiệm cho thấy, sự hoạt động của một LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 ngân hàng dựa trên cơ sở chính sách tín dụng thống nhất, hợp lý, có hiệu quả nhiều hơn là dựa trên cơ sở kinh nghiệm và trao quyền quyết định cho một cá nhân điều hành. Vì vậy, mục tiêu, định hƣớng phát triển trong chính sách tín dụng của ngân hàng cũng là một nhân tố ảnh hƣởng đến công tác quản trị rủi ro tín dụng của NHTM. + Mô hình đánh giá rủi ro tín dụng: Mỗi ngân hàng phải hình thành và đƣa vào sử dụng một mô hình đánh giá rủi ro cụ thể để có thể quản lý rủi ro tín dụng một cách thống nhất và hiệu quả. Mô hình này phải phù hợp với tính chất, quy mô và độ phức tạp của các hoạt động thuộc ngân hàng đó.
Các nhân tố thuộc về khách hàng Khi khách hàng sử dụng vốn vay ngân hàng không đúng mục đích đã đƣa ra trong đơn xin vay vốn nhƣ: sử dụng vốn vay vào kinh doanh không đúng đối tƣợng; sử dụng vốn ngắn hạn để đầu tƣ trung dài hạn, đầu tƣ vào tài sản cố định;. đều có thể ảnh hƣởng đến việc quản trị rủi ro tín dụng của NHTM. Ngoải ra, rủi ro tín dụng còn có thể phát sinh từ sự yếu kém về năng lực lãnh đạo và kinh nghiệm quản lý của ngƣời điều hành doanh nghiệp; khả năng cạnh tranh của khách hàng; đối tác, bạn hàng làm ảnh hƣởng đến kế hoạch sản xuất kinh doanh của khách hàng. Rủi ro tín dụng cũng do nguyên nhân thiếu thiện chí trả nợ vay ngân hàng ngay từ khi xin vay vốn.
Các nhân tố thuộc về môi trường - Môi trƣờng kinh tế xã hội: Môi trƣờng kinh tế xã hội là tổng hoà các mối quan hệ về kinh tế và xã hội tác động đến hoạt động của các doanh nghiệp trong nền kinh tế. Xét một cách tổng thể, môi trƣờng kinh tế xã hội ảnh hƣởng đến việc quản trị rủi ro tín dụng từ cả phía ngân hàng và phía khách hàng. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 - Môi trƣờng pháp lý: Môi trƣờng pháp lý bao gồm hệ thống pháp luật điều chỉnh hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và những biện pháp để thực thi pháp luật. Trong nền kinh tế thị trƣờng, mọi thành phần kinh tế đều có quyền tự chủ về hoạt động kinh doanh của mình nhƣng phải nằm trong khuôn khổ pháp luật quy định.
Hoạt động của ngân hàng nói chung và hoạt động tín dụng nói riêng cũng không nằm ngoài vòng kiểm soát đó. Nó cũng phải tuân theo những quy định có liên quan của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nƣớc ban hành. + Chính sách tiền tệ nới lỏng có thể mang lại lợi ích ngắn hạn cho các NHTM, nhƣng nới lỏng quá mức sẽ dẫn đến tình trạng gia tăng lạm phát và tăng giá bất động sản một cách giả tạo, ảnh hƣởng xấu đến hệ thống ngân hàng trong tƣơng lai + Chính sách tỉ giá có tác động khác nhau đến từng ngành và hoạt động xuất nhập khẩu, tác động gián tiếp đến khả năng sinh lời và hoạt động kinh doanh ngoại hối của ngân hàng. Thay đổi lớn về tỉ giá hay biên độ dao động quá lớn thƣờng ảnh hƣởng tiêu cực đến tình hình tài chính của khách hàng vay vốn và tăng nợ khó đòi, tác động đến ngân hàng sẽ lớn hơn nếu không có qui chế thích hợp về quản lý trạng thái ngoại hối của các ngân hàng.
Trong nền kinh tế bị đô la hóa với qui mô lớn, rủi ro tỉ giá thƣờng không cao nhƣng rủi ro tín dụng rất lớn và bộc lộ rõ nét khi đồng bản tệ bị mất giá, làm giảm khả năng trả nợ các khoản vay ngoại tệ. + Chính sách tài khóa : do chính sách thuế thƣờng có thiên hƣớng tăng thu ngân sách, những thay đổi đột ngột trong hệ thống thuế cũng có thể tác động tới giá tài sản và khả năng trả nợ của bên vay + Chính sách bảo hộ cũng ảnh hƣởng đến hệ thống ngân hàng, trong đó các NHTM quốc doanh vẫn là kênh chủ yếu cấp vốn cho khu vực doanh LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.