Chương 1: Cơ sở lý luận về rủi ro tín dụng và quản trị rủi ro tín dụng trong hoạt động của ngân hàng thƣơng mại. Chương 2: Thực trạng hoạt động quản trị rủi ro tín dụng đối với khách hàng cá nhân tại Ngân hàng Thƣơng mại cổ phần Công thƣơng Việt Nam – Chi nhánh Kon Tum. Chương 3: Giải pháp hoàn thiện hoạt động quản trị rủi ro tín dụng đối với khách hàng cá nhân tại Ngân hàng Thƣơng mại cổ phần Công thƣơng Việt Nam – Chi nhánh Kon Tum. Tổng quan tài liệu nghiên cứu Trong quá trình thực hiện đề tài “Quản trị rủi ro tín dụng đối với khách hàng cá nhân tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Công thương Việt Nam – Chi nhánh Kon Tum”, tác giả tham khảo nhiều tài liệu, công trình nghiên cứu có liên quan, cụ thể nhƣ sau: - Nghiên cứu của tác giả Huỳnh Thị Hồng Vân về hoàn thiện hoạt động quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thƣơng mại cổ phần Á Châu.
Đề tài này tập trung phân tích thực trạng quản trị rủi ro tín dụng đối với cả khách hàng cá nhân và khách hàng doanh nghiệp tại Ngân hàng cổ phần Á Châu chi nhánh Bình Thạnh. Từ đó đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện và cải thiện công tác này tại ACB. - Nghiên cứu của tác giả Trần Thị Tuyết về quản trị rủi ro tín dụng khách hàng cá nhân, hộ gia đình tại Ngân hàng Thƣơng mại cổ phần Công thƣơng Việt Nam chi nhánh Phúc Yên. Tác giả tập trung tổng hợp và phân tích thực trạng của công tác tín dụng và quản trị rủi ro tín dụng đối với khách hàng cá nhân tại Vietinbank Phúc Yên, từ đó đề xuất các giải pháp cụ thể phù hợp với địa phƣơng.
Luan van 5 - Nghiên cứu của tác giả Đậu Thị Liên về quản trị rủi ro tín dụng cá nhân tại ngân hàng thƣơng mại Cổ phần Nam Việt chi nhánh Thừa Thiên – Huế. Ở đề tài này, tác giả đã giúp chúng ta thấy rõ đƣợc những vấn đề nhức nhối đang còn tồn tại trong công tác quản trị rủi ro tín dụng cá nhân ở Ngân hàng Nam Việt chi nhánh Thừa Thiên Huế và đồng thời cũng đề xuất nhiều phƣơng án và giải pháp hợp lý nhằm cải thiện các vấn đề đó. - Nguyễn Văn Tiến, Quản trị rủi ro trong kinh doanh ngân hàng NXB Thống kê, 2010. Giáo trình này cung cấp cho tác giả một các nhìn toàn diện nhất về hoạt động quản trị rủi ro ở các ngân hàng thƣơng mại, cũng nhƣ các nguyên tắc và phƣơng pháp phổ biến đƣợc sử dụng thƣờng xuyên nhằm hạn chế rủi ro tín dụng xảy ra.
- Nguyễn Minh Kiều, Nghiệp vụ Ngân hàng thương mại, NXB Lao động – Xã hội, 2011. Ở giáo trình này, Nguyễn Minh Kiều đã đƣa ra những góc nhìn sâu sắc nhất về các quy tắc nền tảng trong hoạt động thƣơng mại, từ đó làm cơ sở để đánh giá hoạt động quản trị rủi ro tín dụng – một trong những nền tảng của các ngân hàng. - Ngoài ra, tác giả cũng đã tham khảo một số cuốn sách khác thuộc chuyên ngành về Tài chính Tiền tệ, Quản trị ngân hàng thƣơng mại và tài liệu giảng dạy bộ môn quản trị ngân hàng thƣơng mại của Trƣờng Đại học kinh tế - Đại học Đà Nẵng, Trƣờng đại học kinh tế TP. Hồ Chí Minh.
Tuy nhiên, ở các công trình trên, việc nghiên cứu một cách thống nhất và toàn diện, đặc biệt là đề tài quản trị rủi ro tín dụng đối với khách hàng cá nhân tại Vietinbank Kon Tum chƣa hề đƣợc đề cập đến. Vì vậy, tác giả hi vọng sẽ mang đến những phân tích mới về thực trạng công tác quản trị rủi ro tại Chi nhánh. Luan van 6 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ RỦI RO TÍN DỤNG VÀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. TÍN DỤNG VÀ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.
Tín ụng trong oạt động ngân àng t ƣơng mạ Danh từ tín dụng xuất phát từ gốc Latinh Creditum có nghĩa là một sự tin tƣởng tín nhiệm lẫn nhau, hay nói cách khác đó là lòng tin. Theo ngôn ngữ dân gian Việt Nam thì tín dụng là quan hệ vay mƣợn lẫn nhau trên cơ sở có hoàn trả cả gốc và lãi. Theo Mác, tín dụng là sự chuyển nhƣợng tạm thời một lƣợng giá trị từ ngƣời sở hữu sang ngƣời sử dụng, sau một thời gian quay về với một lƣợng giá trị lớn hơn giá trị ban đầu. Theo quan điểm này thì tín dụng có 3 nội dung chủ yếu đó là: tính chuyển nhƣợng tạm thời một lƣợng giá trị, tính thời hạn và tính hoàn trả.
Nhƣ vậy, tín dụng là một phạm trù kinh tế phản ánh mối quan hệ giao dịch giữa hai chủ thể, trong đó có sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị (hình thái tiền tệ hay hiện vật) từ người sở hữu sang người sử dụng để sau một thời gian thu về một lượng giá trị lớn hơn lượng giá trị ban đầu với những điều kiện mà hai bên thoả thuận.[15] Hành vi tín dụng có thể đƣợc diễn ra trực tiếp giữa ngƣời thừa vốn cần đầu tƣ và ngƣời cần vốn để sử dụng. Trên thực tế hai ngƣời này khó có thể phù hợp đƣợc với nhau về quy mô, thời gian nhàn rỗi và thời gian sử dụng vốn; hoặc cũng có thể phù hợp đƣợc nhƣng phải tốn kém chi phí để tìm kiếm. Luan van 7 Do vậy, cần thiết phải có một ngƣời thứ ba đứng ra tập trung đƣợc tất cả số vốn của những ngƣời tạm thời thừa, cần đầu tƣ kiếm lãi (dƣới hình thức huy động); trên cơ sở vốn tập trung đƣợc phân phối cho những ngƣời cần vốn (dƣới hình thức cho vay) để sử dụng. Ngƣời đó không ai khác chính là các tổ chức tín dụng, mà chủ yếu là các NHTM, ngƣời môi giới tài chính trên thị trƣờng tài chính.
Việc các NHTM tập trung vốn dƣới hình thức huy động và phân phối vốn dƣới hình thức cho vay đƣợc gọi là tín dụng ngân hàng. Có thể nói, Tín dụng ngân hàng là giao dịch tài sản giữa ngân hàng (TCTD) với bên đi vay (là các tổ chức kinh tế, cá nhân trong nền kinh tế) trong đó ngân hàng chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định theo thoả thuận, và bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện cả vốn gốc và lãi cho ngân hàng khi đến hạn thanh toán [4]. Xuất phát từ đặc trƣng của hoạt động ngân hàng là kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ nên tài sản giao dịch trong tín dụng ngân hàng chủ yếu là dƣới hình thức tiền tệ. Tuy nhiên trong một số hình thức tín dụng, nhƣ cho thuê tài chính thì tài sản trong giao dịch tín dụng cũng có thể là các tài sản khác nhƣ tài sản cố định.
Rủ ro tín ụng trong oạt động ủ ngân àng t ƣơng mạ a. Khái niệm rủi ro tín dụng Theo Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN đƣợc ban hành ngày 22/04/2005 của Ngân hàng nhà nƣớc Việt Nam về việc phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng: “RRTD trong hoạt động ngân hàng của TCTD là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng do KH không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết.” [7] Luan van 8 Nói cách khác, rủi ro tín dụng là loại rủi ro phát sinh trong quá trình cấp tín dụng của bất kỳ NHTM nào. Biểu hiện rõ ràng nhất thông qua việc KH không có khả năng chi trả các khoản đã vay hoặc hoặc trả nợ không đúng thời hạn đã quy định từ trƣớc. Hay còn đƣợc gọi là rủi ro mất khả năng chi trả hoặc rủi ro sai hẹn, là loại rủi ro liên quan đến chất lƣợng hoạt động tín dụng của ngân hàng.
RRTD là rủi ro thất thoát tài sản, có thể phát sinh khi đối tác không thực hiện nghĩa vụ tài chính hoặc nghĩa vụ theo hợp đồng đối với ngân hàng, bao gồm cả việc không thực hiện thanh toán nợ cho dù đấy là nợ gốc hay nợ lãi khi khoản nợ đến hạn. Rủi ro này bao gồm cả rủi ro thanh toán khi bên thứ ba (ví dụ ngân hàng thanh toán) không thực hiện các nghĩa vụ của mình đối với ngân hàng này. RRTD không chỉ giới hạn ở hoạt động cho vay, mà còn bao gồm nhiều hoạt động mang tính chất tín dụng khác của ngân hàng nhƣ bảo lãnh, cam kết, chấp thuận tài trợ thƣơng mại, cho vay ở thị trƣờng liên ngân hàng, tín dụng thuê mua, đồng tài trợ dự án,. Lúc quyết định cấp tín dụng ngân hàng chƣa biết chắc chắn đƣợc khả năng có thu hồi đƣợc khoản tín dụng ấy hay không bởi vì lúc đó việc thu hồi khoản tín dụng chƣa xảy ra.
Phân loại rủi ro tín dụng ngân hàng Có 3 phƣơng pháp chính để phân loại RRTD trong hoạt động ngân hàng * Dựa vào khả năng trả nợ của khách hàng - RRTD do không có khả năng hoàn trả: Xảy ra khi KH mất khả năng chi trả, dẫn đến việc ngân hàng bắt buộc phải thanh lý tài sản để thu hồi nợ. - Rủi ro tín dụng do không hoàn trả đúng hạn * Dựa vào tính chủ quan, khách quan của nguyên nhân Luan van 9 - Rủi ro tín dụng chủ quan: Phát sinh từ những hoạt động có chủ đích của CBTD nhƣ vi phạm quy định, thiếu chọn lọc trong thông tin; hoặc của bên đi vay nhƣ sử dụng sai mục đích. - Rủi ro tín dụng khách quan: Có nguồn gốc từ những biến động về môi trƣờng kinh tế, xã hội, chính trị hay môi trƣờng. * Dựa vào nguyên nhân phát sinh rủi ro tín dụng Dựa vào nguyên nhân phát sinh, rủi ro tín dụng có thể đƣợc chia thành hai loại chính là rủi ro giao dịch và rủi ro danh mục - Rủi ro tín dụng giao dịch: Đây là những rủi ro cá biệt của từng khoản tín dụng và phát sinh từ những hạn chế của cán bộ tín dụng trong quá trình đánh giá và quyết định cho vay đối với KH.
+ Rủi ro kiểm soát: Có liên quan đến quá trình theo dõi các khoản tín dụng. + Rủi ro xét duyệt: Có liên quan đến quá trình phân tích và đánh giá tín dụng, cũng nhƣ các phƣơng án vay vốn trong việc đƣa ra quyết định tài trợ cuối cùng của NHTM.