Luận văn quản trị rủi ro tín dụng DNNVV - Agribank Thanh Hóa 2021

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu quản trị rủi ro tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Agribank Thanh Hóa giai đoạn 2017-2020 với giải pháp hoàn thiện.

Trường đại học

Trường Đại học Hồng Đức

Chuyên ngành

Quản trị kinh doanh

Tác giả

Trịnh Thị Yến

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh

2021

109
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Cách quản trị rủi ro tín dụng DNNVV tại Agribank Thanh Hóa hiệu quả

Quản trị rủi ro tín dụng DNNVV là một trong những nhiệm vụ then chốt giúp Agribank Chi nhánh tỉnh Thanh Hóa duy trì chất lượng tài sản và đảm bảo an toàn hoạt động. Theo luận văn của Trịnh Thị Yến (2021), rủi ro tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) tại chi nhánh này phát sinh từ nhiều nguyên nhân, bao gồm năng lực tài chính hạn chế, thiếu minh bạch thông tin và biến động thị trường. Việc áp dụng các phương pháp quản lý rủi ro tín dụng bài bản – từ đánh giá hồ sơ vay, phân loại nợ đến trích lập dự phòng – đã góp phần giảm tỷ lệ nợ xấu xuống mức dưới 2% trong giai đoạn 2017–2020. Tuy nhiên, thách thức vẫn tồn tại do đặc thù hoạt động của DNNVV: quy mô nhỏ, khả năng chống chịu rủi ro thấp và phụ thuộc lớn vào điều kiện kinh tế địa phương. Do đó, Agribank Thanh Hóa cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ, ứng dụng công nghệ số và nâng cao năng lực cán bộ thẩm định để tối ưu hóa quy trình quản trị rủi ro tín dụng.

1.1. Khái niệm và vai trò của quản trị rủi ro tín dụng DNNVV

Quản trị rủi ro tín dụng DNNVV được hiểu là quá trình nhận diện, đo lường, giám sát và kiểm soát các rủi ro phát sinh từ hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa. Tại Agribank Thanh Hóa, hoạt động này không chỉ bảo vệ tài sản có mà còn hỗ trợ DNNVV tiếp cận vốn an toàn, bền vững. Theo nghiên cứu của Trịnh Thị Yến (2021), DNNVV chiếm hơn 60% tổng số khách hàng vay vốn tại chi nhánh, đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế địa phương – đặc biệt trong lĩnh vực nông nghiệp và dịch vụ.

1.2. Đặc điểm rủi ro tín dụng trong nhóm DNNVV tại Thanh Hóa

Các DNNVV tại Thanh Hóa thường có báo cáo tài chính chưa chuẩn hóa, thiếu tài sản thế chấp và dễ bị ảnh hưởng bởi thiên tai, dịch bệnh. Điều này làm tăng xác suất vỡ nợ. Báo cáo nội bộ Agribank Thanh Hóa giai đoạn 2017–2020 cho thấy tỷ lệ nợ nhóm 2 (nợ cần chú ý) ở nhóm DNNVV cao hơn 1,5 lần so với doanh nghiệp lớn. Đây là dấu hiệu cảnh báo sớm về rủi ro tín dụng tiềm ẩn cần được theo dõi sát sao.

II. Thách thức trong quản trị rủi ro tín dụng DNNVV tại Agribank Thanh Hóa

Mặc dù đã đạt được những tiến bộ nhất định, công tác quản trị rủi ro tín dụng DNNVV tại Agribank Thanh Hóa vẫn đối mặt với nhiều thách thức nội tại và ngoại vi. Một trong những hạn chế nổi bật là năng lực thẩm định rủi ro của cán bộ tín dụng chưa đồng đều, dẫn đến việc đánh giá sai lệch khả năng trả nợ của khách hàng. Bên cạnh đó, hệ thống thông tin tín dụng quốc gia chưa phủ sóng đầy đủ tới tất cả DNNVV, khiến ngân hàng khó xác minh lịch sử tín dụng. Ngoài ra, theo Trịnh Thị Yến (2021), sự thiếu phối hợp giữa các phòng ban – như phòng tín dụng, phòng rủi ro và phòng pháp chế – làm chậm trễ trong xử lý nợ xấu. Những yếu tố này cộng hưởng làm giảm hiệu quả quản lý rủi ro tín dụng, đặc biệt trong bối cảnh kinh tế bất ổn sau đại dịch COVID-19.

2.1. Hạn chế từ phía ngân hàng và quy trình nội bộ

Quy trình thẩm định tín dụng tại Agribank Thanh Hóa vẫn nặng về thủ tục hành chính, thiếu ứng dụng mô hình định lượng rủi ro hiện đại. Nhiều cán bộ tín dụng chưa được đào tạo chuyên sâu về phân tích tài chính doanh nghiệp, dẫn đến đánh giá chủ quan. Ngoài ra, hệ thống cảnh báo sớm rủi ro chưa được tích hợp AI hoặc big data, làm giảm khả năng dự báo nợ xấu.

2.2. Rào cản từ phía doanh nghiệp nhỏ và vừa

Nhiều DNNVV tại Thanh Hóa chưa tuân thủ chuẩn mực kế toán, không có báo cáo tài chính kiểm toán và thiếu minh bạch trong khai thác thông tin. Điều này gây khó khăn cho ngân hàng trong việc xác định khả năng trả nợ thực tế. Một khảo sát nội bộ năm 2020 cho thấy hơn 40% hồ sơ vay vốn DNNVV thiếu dữ liệu doanh thu đáng tin cậy.

III. Phương pháp quản trị rủi ro tín dụng DNNVV theo Basel II tại Agribank

Agribank Thanh Hóa đang từng bước áp dụng khuôn khổ Basel II để nâng cao năng lực quản trị rủi ro tín dụng DNNVV. Theo Thông tư 02/2013/TT-NHNN và hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước, chi nhánh đã xây dựng hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ (IRB), trong đó mỗi khách hàng DNNVV được gán điểm rủi ro dựa trên các chỉ tiêu tài chính, ngành nghề và lịch sử tín dụng. Mô hình này giúp phân loại nợ chính xác hơn và tính toán mức dự phòng rủi ro phù hợp. Nghiên cứu của Lê Thanh Tùng (2014) cũng khẳng định rằng IRB giúp giảm 15–20% tổn thất tín dụng nếu được triển khai đúng cách. Tại Agribank Thanh Hóa, việc tích hợp Basel II đã giúp cải thiện đáng kể chất lượng danh mục cho vay DNNVV, với tỷ lệ nợ xấu giảm từ 2,3% (2017) xuống còn 1,7% (2020).

3.1. Ứng dụng hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ IRB

Hệ thống IRB tại Agribank Thanh Hóa sử dụng 5 tiêu chí chính: tình hình tài chính, dòng tiền, ngành nghề, tài sản đảm bảo và uy tín cá nhân chủ doanh nghiệp. Mỗi tiêu chí được chấm điểm theo thang điểm 1–5, tổng hợp thành mức độ rủi ro từ A+ (rất thấp) đến D (rất cao). Các khoản vay nhóm C trở lên phải được giám sát đặc biệt và yêu cầu bổ sung bảo lãnh.

3.2. Trích lập dự phòng rủi ro theo Thông tư 02 2013 TT NHNN

Theo quy định, Agribank Thanh Hóa trích lập dự phòng rủi ro tín dụng theo 5 nhóm nợ, với tỷ lệ từ 0% (nợ nhóm 1) đến 100% (nợ nhóm 5). Việc tuân thủ nghiêm ngặt giúp chi nhánh duy trì tỷ lệ an toàn vốn trên 10%, vượt yêu cầu tối thiểu của Ngân hàng Nhà nước. Năm 2020, tổng dự phòng rủi ro dành cho DNNVV đạt hơn 85 tỷ đồng.

IV. Giải pháp nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng DNNVV

Để tối ưu hóa quản trị rủi ro tín dụng DNNVV, Agribank Thanh Hóa cần kết hợp giải pháp con người, quy trình và công nghệ. Trước hết, cần đào tạo chuyên sâu cho đội ngũ cán bộ tín dụng về phân tích tài chính và kỹ năng thẩm định rủi ro phi tài chính. Thứ hai, nên xây dựng cơ sở dữ liệu khách hàng tập trung, kết nối với Cổng thông tin quốc gia về DNNVV và Trung tâm Thông tin Tín dụng (CIC). Cuối cùng, ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) và học máy (machine learning) để dự báo khả năng vỡ nợ dựa trên dữ liệu lịch sử. Theo khuyến nghị của Trịnh Thị Yến (2021), việc thiết lập quan hệ đối tác với các hiệp hội DNNVV cũng giúp ngân hàng tiếp cận thông tin minh bạch và hỗ trợ khách hàng cải thiện năng lực tài chính.

4.1. Đào tạo nâng cao năng lực cán bộ tín dụng

Chương trình đào tạo nên tập trung vào kỹ năng đọc báo cáo tài chính, phân tích dòng tiền và nhận diện dấu hiệu gian lận. Agribank Thanh Hóa có thể phối hợp với Trường Đại học Hồng Đức tổ chức các khóa huấn luyện định kỳ, cập nhật xu hướng quản lý rủi ro tín dụng hiện đại.

4.2. Số hóa quy trình thẩm định và giám sát tín dụng

Việc triển khai nền tảng tín dụng số giúp tự động hóa thu thập dữ liệu, phân tích rủi ro và cảnh báo sớm. Ví dụ, hệ thống có thể gửi cảnh báo khi doanh nghiệp có doanh thu sụt giảm liên tục 3 tháng hoặc thay đổi giám đốc đột ngột – những dấu hiệu cảnh báo rủi ro tín dụng tiềm ẩn.

V. Kết quả thực tiễn từ quản trị rủi ro tín dụng DNNVV tại Agribank Thanh Hóa

Giai đoạn 2017–2020, Agribank Thanh Hóa đã đạt được những kết quả tích cực trong quản trị rủi ro tín dụng DNNVV. Tổng dư nợ cho vay DNNVV tăng trung bình 12%/năm, trong khi tỷ lệ nợ xấu duy trì dưới 2%. Thu nhập từ lãi vay nhóm này chiếm khoảng 35% tổng thu nhập tín dụng của chi nhánh. Đặc biệt, nhờ áp dụng phân loại nợ theo Thông tư 02/2013/TT-NHNN, chi nhánh đã xử lý kịp thời hơn 90% các khoản nợ có dấu hiệu rủi ro trước khi chuyển sang nhóm 3 trở lên. Nghiên cứu của Trịnh Thị Yến (2021) cũng chỉ ra rằng các biện pháp tái cơ cấu nợ linh hoạt – như giãn nợ, giảm lãi – đã giúp hơn 200 DNNVV phục hồi hoạt động sau khủng hoảng, góp phần ổn định kinh tế địa phương.

5.1. Chỉ số tài chính và hiệu quả tín dụng giai đoạn 2017 2020

Từ năm 2017 đến 2020, dư nợ DNNVV tăng từ 3.200 tỷ lên 4.600 tỷ đồng. Tỷ lệ nợ xấu dao động từ 1,7% đến 2,1%, thấp hơn mức trung bình toàn hệ thống Agribank (2,4%). Hệ số thu hồi nợ đạt 88%, phản ánh hiệu quả trong giám sát và thu hồi nợ.

5.2. Bài học kinh nghiệm từ xử lý rủi ro tín dụng thực tế

Một số trường hợp điển hình cho thấy việc phối hợp với chính quyền địa phương và hiệp hội ngành hàng giúp Agribank Thanh Hóa tiếp cận thông tin nhanh hơn, từ đó đưa ra quyết định xử lý nợ phù hợp. Ví dụ, trong vụ vỡ nợ của một doanh nghiệp chế biến thủy sản năm 2019, ngân hàng đã thương lượng thành công nhờ hỗ trợ từ Sở Công Thương.

VI. Xu hướng và tương lai của quản trị rủi ro tín dụng DNNVV tại Agribank

Trong tương lai, quản trị rủi ro tín dụng DNNVV tại Agribank Thanh Hóa sẽ chuyển dịch mạnh mẽ sang mô hình dựa trên dữ liệu và công nghệ. Với sự hỗ trợ từ chiến lược chuyển đổi số của Agribank toàn hệ thống, chi nhánh Thanh Hóa dự kiến triển khai nền tảng AI-driven credit scoring vào năm 2025. Đồng thời, việc tích hợp ESG (môi trường, xã hội, quản trị) vào tiêu chí đánh giá rủi ro cũng sẽ được xem xét, phù hợp với xu hướng tài chính bền vững toàn cầu. Ngoài ra, theo khuyến nghị từ Ngân hàng Thế giới, việc mở rộng hợp tác với các tổ chức tài chính vi mô và quỹ bảo lãnh tín dụng sẽ giúp giảm rủi ro cho các DNNVV siêu nhỏ – nhóm khách hàng tiềm năng nhưng rủi ro cao.

6.1. Chuyển đổi số và ứng dụng AI trong quản lý rủi ro

Các mô hình học máy có thể phân tích hàng nghìn biến số – từ hóa đơn điện, giao dịch ngân hàng đến đánh giá trên mạng xã hội – để dự báo khả năng trả nợ chính xác hơn 30% so với phương pháp truyền thống. Agribank Thanh Hóa đang thử nghiệm mô hình này với nhóm DNNVV trong lĩnh vực logistics và thương mại điện tử.

6.2. Hướng đến tài chính bền vững và tiêu chí ESG

Việc lồng ghép tiêu chí ESG vào quy trình cấp tín dụng giúp Agribank Thanh Hóa không chỉ quản lý rủi ro tốt hơn mà còn thu hút nguồn vốn xanh từ các tổ chức quốc tế. Các DNNVV đầu tư vào năng lượng tái tạo hoặc có chính sách lao động minh bạch sẽ được ưu đãi lãi suất và điều kiện vay linh hoạt hơn.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

14/03/2026
Quản trị rủi ro tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tại ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn việt nam chi nhánh tỉnh thanh hóa

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu và kết luận, luận văn đƣợc kết cấu ba chƣơng, cụ thể nhƣ sau: Chƣơng 1: Tổng quan về rủi ro và quản trị rủi ro tín dụng đối với DNNVV trong hoạt động của NHTM Chƣơng 2: Thực trạng công tác quản trị rủi ro tín dụng đối với DNNVV tại Agribank Chi nhánh tỉnh Thanh Hóa Chƣơng 3 : Giải pháp hoàn thiện công tác quản trị rủi ro tín dụng đối với DNNVV tại NHNN &PTNT chi nhánh tỉnh Thanh Hóa. 4 Chƣơng 1: TỔNG QUAN VỀ RỦI RO TÍN DỤNG VÀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.1 Rủi ro tín dụng tại ngân hàng thƣơng mại 1.1 Khái niệm *Khái niệm rủi ro Theo quan điểm truyền thống, rủi ro là những sự kiện có thể xảy ra làm cho mất mát tài sản hay làm phát sinh một khoản nợ, không thể đo lƣờng đƣợc. Theo quan điểm hiện đại, rủi ro bao hàm nghĩa rộng hơn và có thể đo lƣờng đƣợc, rủi ro không chỉ tính đến rủi ro tài chính mà còn phải tính đến rủi ro liên quan đến những mục tiêu hoạt động và mục tiêu chiến lƣợc. Trong cuốn sách “rủi ro không chắc chắn và lợi nhuận” của Frank Knight đƣợc xuất bản năm 1921 cho rằng “rủi ro là sự bất chắc có thể đo lƣờng đƣợc”.

Theo tác giả Allan Willett trong sách “The Economic theory of risk and insurance”- Philadelphia University of Pensylvania press, USA 1951: “Rủi ro là sự bất trắc cụ thể liên quan đến việc xuất hiện một biến cố không mong đợi”. Rose trong cuốn sách “Commercial Bank Management. Graw – Hill” cho rằng rủi ro đối với một ngân hàng có nghĩa là “mức độ không chắc chắn liên quan tới một vài sự kiện” [2] Rủi ro là các sự kiện không chắc chắn có thể xảy ra trong hoạt động kinh doanh, gây tổn thất doanh thu, lợi nhuận, vốn, các thiệt hại vật chất và phi vật chất khác hoặc không đạt được mục tiêu kinh doanh của công ty hoặc mục tiêu của khách hàng ủy thác.[2] Nhìn chung, các quan điểm đều cho rằng rủi ro là những bất trắc, diễn ra bất ngờ, ngoài ý muốn của chủ thể. Một cách chung nhất có thể hiểu: Rủi ro là khả năng những sự kiện chƣa chắc chắn trong tƣơng lai sẽ làm cho chủ thể không đạt đƣợc những mục tiêu chiến lƣợc và mục tiêu hoạt động, cũng nhƣ chi phí cơ hội của việc làm mất những cơ hội thị trƣờng.

*Rủi ro tín dụng Có nhiều định nghĩa khác nhau về RRTD 5 - Trong tài liệu “Công nghệ ngân hàng dành cho các nƣớc đang phát triển” RRTD đƣợc định nghĩa là thiệt hại kinh tế của ngân hàng do một khách hàng hoặc một nhóm khách hàng không hoàn trả đƣợc nợ vay ngân hàng. Theo Hennie van Greuning – Sonja Brrajovic Bratanovic thì: rủi ro tín dụng đƣợc định nghĩa là nguy cơ mà ngƣời đi vay không thể chi trả tiền lãi, hoặc hoàn trả vốn gốc so với thời hạn đã ấn định trong hợp đồng tín dụng. Đây là thuộc tính vốn có của hoạt động Ngân hàng. Rủi ro tín dụng tức là việc chi trả bị trì hoãn, hoặc tồi tệ hơn là không hoàn trả đƣợc toàn bộ.

Điều này gây ra sự cố đối với dòng lƣu chuyển tiền tệ, và gây ảnh hƣởng tới khả năng thanh khoản của ngân hàng. Theo Basel II, một cách đơn giản, rủi ro tín dụng đƣợc định nghĩa là khả năng bên vay hay đối tác của ngân hàng không thực hiện các nghĩa vụ theo các điều khoản đã thỏa thuận [1]. Rose (2003), trong cuốn Quản trị ngân hàng thƣơng mại, rủi ro tín dụng là khả năng bên đi vay không thực hiện trả đầy đủ nợ gốc và lãi tiền vay và có thể vỡ nợ.[2] Theo cuốn Quản trị rủi ro ngân hàng (2012) của Joel Bessis, rủi ro tín dụng đƣợc hiểu là những tổn thất do khách hàng không trả đƣợc nợ hoặc đó là sự giảm sút chất lƣợng tín dụng của những khoản vay.[3] Tại Việt Nam theo quy chế hƣớng dẫn việc thiết lập và vận hành hệ thống quản trị rủi ro cho công ty quản lý quỹ và công ty đầu tƣ chứng khoán riêng lẻ tự quản lý. Một cách chung nhất có thể hiểu RRTD là những tổn thất về tài chính (trực tiếp hoặc gián tiếp) xuất phát từ việc ngƣời đi vay không thực hiện nghĩa vụ trả nợ đúng hạn theo cam kết hoặc mất khả năng thanh toán.

RRTD phát sinh trong trƣờng hợp ngân hàng không thu đƣợc đầy đủ gốc, lãi hoặc cả gốc lẫn lãi của khoản vay; hoặc là việc thanh toán khoản vay của khách hàng không đúng kỳ hạn. RRTD không chỉ giới hạn ở hoạt động cho vay mà còn bao gồm nhiều hoạt động mang tính chất tín dụng khác của ngân hàng nhƣ: bảo lãnh, cam kết thanh toán, chấp thuận tài trợ thƣơng mại, đồng tài trợ, cho thuê mua.2 Những rủi ro trong hoạt động Ngân hàng 6 Trên cơ sở tiếp cận chức năng hoạt động của ngân hàng thì RRTD đƣợc phân theo các hình thức nhƣ sau: - Không thu đƣợc lãi, phí đúng hạn: Cấp độ thấp nhất là khi ngƣời vay không trả đƣợc lãi đúng hạn, khi đó Ngân hàng sẽ chuyển số lãi, phí đó vào khoản mục lãi treo phát sinh. Hình thức rủi ro này đƣợc xếp vào mức rủi ro thấp vì ngoại trừ trƣờng hợp khách hàng muốn chiếm dụng vốn thì phần lớn đều xuất phát từ việc thiếu cân đối trong kỳ hạn thu nợ và trả nợ cuả khách hàng. - Không thu đƣợc vốn đúng hạn: Khi không thu đƣợc vốn đúng hạn tình hình dƣờng nhƣ nghiêm trọng hơn, một phần do một lƣợng vốn cho vay lớn bị mất.

Khi đó, Ngân hàng sẽ chuyến số nợ vốn đó sang mục nợ quá hạn phát sinh. Khoản mục này phát sinh vào thời gian đáo hạn của hợp đồng tín dụng. Tuy nhiên, đấy chƣa phải là khoản mất mát hiện thực của Ngân hàng vì có thể tiến độ hoạt động kinh doanh cuả khách hàng bị chậm so với kế hoạch đã đề ra trình Ngân hàng. - Không thu đƣợc đủ lãi, phí: Khi Ngân hàng không thu đƣợc đủ lãi, phí thì tình hình đã trở nên nghiêm trọng hơn.

Tình hình kinh doanh của khách hàng có thể đã kém hiệu quả đến mức không thể trả đủ lãi, phí cho Ngân hàng. Khi đó, Ngân hàng phải chuyển khoản lãi, phí này vào khoản mục lãi, phí treo đóng băng, thậm chí có thế phải thực hiện miễn giảm lãi, phí cho khách hàng. - Không thu đủ vốn cho vay: Tình huống xấu nhất xảy ra khi ngân hàng không thu đủ vốn cho vay và lúc này Ngân hàng đã bị mất vốn. Tại thời điếm này, Ngân hàng sẽ chuyển khoản nợ vào mục nợ không có khả năng thu hồi hoặc phải xoá nợ, coi nhƣ khép lại một hợp đồng tín dụng không có hiệu quả.

Trên đây là bốn hình thức giúp cho NHTM nhận biết RRTD và có biện pháp xử lý. Tuy nhiên, không phải lúc nào gặp RRTD thì ngân hàng đều phải trải qua bốn trƣờng hợp trên. Có trƣờng hợp khách hàng trả lãi, phí rất đầy đủ và đúng hạn nhƣng cuối cùng lại không thể trả đƣợc nợ gốc cho ngân hàng. Vì vậy, khi nghiên cứu về RRTD, ngƣời ta thƣờng chú trọng vào các trƣờng hợp có nguy cơ xảy ra RRTD, ngƣời ta thƣờng chú trọng vào các trƣờng hợp có nguy cơ xảy ra RRTD nhƣ là lãi treo phát sinh và đặc biệt là nợ quá hạn 7 phát sinh.

Còn ở các trƣờng hợp khác có lãi treo đóng băng hay nợ không có khả năng thu hồi đƣợc coi là rủi ro thực sự nên thƣờng đƣợc xem xét để giải quyết hậu quả và rút ra những bài học kinh nghiệm.3 Nguyên nhân rủi ro tín dụng 1. Nguyên nhân khách quan Một là, môi trƣờng chính trị, pháp luật Hoạt động tín dụng của ngân hàng luôn luôn và bao giờ cũng phải đặt trong khuôn khổ luật pháp và chính trị của một quốc gia nhất định. Hoạt động tín dụng của ngân hàng phải tuân thủ các giới hạn và chịu sự giám sát của ngân hàng Trung Ƣơng, cơ quan quản lý nhà nƣớc trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ. Trong quản trị rủi ro tín dụng của ngân hàng thƣơng mại, sự giám sát của cơ quan quản lý ngân hàng vừa có ý nghĩa định hƣớng cho các ngân hàng tuân theo các chuẩn mực chung, vừa có tác dụng cảnh báo từ xa.

Khi nền kinh tế có những biến đổi, ở góc độ kinh doanh, các ngân hàng rất dễ chạy theo lợi nhuận trƣớc mắt, không lƣờng hết hậu quả lâu dài sau này. Sự giám sát cảnh báo của cơ quan quản lý ngân hàng là hết sức cần thiết, nhằm đảm bảo sự an toàn không chỉ cho từng ngân hàng mà còn cho cả hệ thống. Hai là, môi trƣờng kinh tế trong nƣớc Ngay từ khi mới ra đời cho đến nay, hoạt động tín dụng của ngân hàng luôn đƣợc đánh giá là đòn bẩy cho sự phát triển kinh tế của một quốc gia. Do vậy, trong quản trị tín dụng, từ giai đoạn hoạch định mục tiêu, thiết kế danh mục cho đến khi giám sát thực hiện đều chịu ảnh hƣởng rất lớn bởi môi trƣờng kinh tế trong nƣớc.

Quá trình thực hiện cho vay cũng có sự gắn kết chặt chẽ với biến động của nền kinh tế và điều này đem lại cả thuận lợi cũng nhƣ khó khăn cho hoạt động quản trị cho vay của ngân hàng. Bởi vì hoạt động cho vay là một dạng dịch vụ, cần phải thỏa mãn các nhu cầu của thị trƣờng, nên trong điều kiện nền kinh tế tăng trƣởng “nóng” các ngân hàng rất dễ bị cuốn hút theo sự phát triển của một số ngành kinh tế thời thƣợng, cơ cấu danh mục cho vay của 8 ngân hàng có thể đi lệch hƣớng ban đầu, chỉ tập trung vào một số ít ngành đang phát triển mạnh. Trong ngắn hạn điều này có thể đem lại lợi nhuận cho ngân hàng tức thời, tuy nhiên, khi các ngành kinh tế nhạy cảm từ “nóng” trở nên “nguội lạnh” thì rủi ro tiềm ẩn mới thực sự bộc lộ và hậu quả tổn thất sẽ khôn lƣờng cho ngân hàng. Chính vì vậy trong quá trình quản trị tín dụng, quản trị rủi ro tín dụng, đòi hỏi các ngân hàng phải nắm bắt kịp thời những biến động của nền kinh tế, có những quyết sách phù hợp với sự thay đổi đang diễn ra trong nền kinh tế, đảm bảo lợi nhuận và tổn thất tín dụng luôn nằm trong khả năng kiểm soát của ngân hàng.

Ba là, các nhân tố thuộc về khách hàng - Thông tin bất cân xứng: Việc “vay mƣợn” giữa ngân hàng và khách hàng đƣợc lập thành hợp đồng tín dụng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ