phần mở đầu và phần kết luận, luận văn đƣợc chia làm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý thuyết về quản trị rủi ro tín dụng đối với hoạt động cho vay khách hàng doanh nghiệp của ngân hàng thƣơng mại Chƣơng 2: Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng trong cho vay khách hàng doanh nghiệp tại Ngân hàng TMCP Đầu tƣ và Phát triển Việt Nam–Chi nhánh Sở giao dịch 2. Chƣơng 3: Giải pháp hoàn thiện công tác quản trị rủi ro tín dụng trong cho vay đối với khách hàng doanh nghiệp tại Ngân hàng TMCP Đầu tƣ và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Sở giao dịch 2. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG CHO VAY KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.
RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Khái niệm Rủi ro tín dụng trong kinh doanh ngân hàng Trong hoạt động ngân hàng, tín dụng là nghiệp vụ kinh doanh chủ yếu của NHTM, đem lại lợi nhuận lớn nhất nhƣng cũng là loại rủi ro lớn nhất của NHTM. Rủi ro tín dụng gắn liền với hoạt động tín dụng, đƣợc đề cập ở đây là rủi ro trong hoạt động cho vay, cấp tín dụng của NHTM. Có nhiều khái niệm về rủi ro tín dụng đƣợc ghi nhận trong các tài liệu nghiên cứu của các học giả trong và ngoài nƣớc, có thể dẫn ra nhƣ sau: Theo Joel Bessis (1998) đƣa ra khái niệm về rủi ro tín dụng trong cuốn Quản trị rủi ro trong ngân hàng: “Rủi ro tín dụng là rủi ro quan trọng nhất trong ngân hàng.
Đó là rủi ro đối tác sẽ vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Theo các quy định, rủi ro tín dụng chia thành một vài thành phần rủi ro tín dụng: rủi ro vỡ nợ; rủi ro giảm uy tín; rủi ro nguy cơ, tức là sự bất trắc về giá trị tƣơng lai của khoản tiền có thể thua lỗ vào thời điểm vỡ nợ chƣa biết; thua lỗ do vỡ nợ thƣờng ít hơn lƣợng tiền phải trả bởi vì sự hồi phục nhờ đảm bảo hay thế chấp của bên thứ ba; rủi ro đối tác là hình thức rủi ro tín dụng cụ thể xuất phát từ phái sinh, có thể chuyển đổi từ đối tác này sang đối tác khác”. Quan điểm của A.Langge (1999) thì: “Rủi ro tín dụng là khoản lỗ tiềm tàng khi ngân hàng cấp tín dụng cho một khách hàng, nghĩa là khả năng luồng thu nhập dự tính mang lại từ khoản cho vay của ngan hàng không thể thực hiện đầy đủ về cả số lƣợng và thời gian”. Quan điểm của Timmothy W.Koch (2012): “Rủi ro tín dụng là sự thay đổi tiềm ẩn của thu nhập thuần và thị giá của vốn xuất phát từ việc vốn vay không đƣợc thanh toán hay thanh toán trễ hạn” Theo quan niệm của Ủy ban Basel (2000) thì “Rủi ro tín dụng là khả năng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 khách hàng vay hoặc bên đối tác của ngân hàng không thực hiện đúng cam kết đã thỏa thuận”.
Tại Điều 3, Thông tƣ số 02/2013/TT-NHNN ngày 21/1/2013 của NHNN nêu rõ: “Rủi ro tín dụng trong hoạt động NH là tổn thất có khả năng xảy ra đối với nợ của Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nƣớc ngoài do khách hàng không thực hiện, hoặc không có khả năng thực hiện một phần hay toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết”. Như vậy, đứng trên nhiều góc độ khác nhau để nhìn nhận thì rủi ro tín dụng có thể đƣợc diễn đạt dƣới các hình thức khác nhau. Vì vậy, để thống nhất quan điểm về rủi to tín dụng xuyên suốt trong toàn bộ nội dung luận văn, khái niệm này có thể hiểu nhƣ sau: Rủi ro tín dụng là những khoản tổn thất phát sinh trong trường hợp ngân hàng không thu được đầy đủ cả gốc và lãi của khoản vay, hoặc khách hàng thanh toán nợ gốc và lãi không đúng kỳ hạn. Phân loại rủi ro tín dụng ngân hàng Có nhiều cách phân loại và tiếp cận rủi ro tín dụng khác nhau, sau đây là một số cách phân loại phổ biến: - Căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro (Gup, 2007), rủi ro tín dụng đƣợc chia thành hai nhóm là rủi ro giao dịch và rủi ro danh mục tín dụng.
Rủi ro tín dụng (Rủi ro mất vốn) Rủi ro giao dịch Rủi ro danh mục (Rủi ro liên quan (Rủi ro liên quan đến đến một khoản đến danh mục các cho vay) khoản cho vay) Rủi ro xét duyệt Rủi ro bảo đảm Rủi ro kiểm soát Rủi ro cá biệt Rủi ro tập trung (liên quan đến việc (liên quan đến (liên quan đến việc (liên quan đến từng cho vay đánh giá một khoản chính sách và hợp theo dõi khoản loại cho vay) (liên quan đến kém cho vay) đồng cho vay) vay) đa dạng hóa cho vay) Sơ đồ 1.1: Phân loại rủi ro tín dụng dựa vào nguyên nhân phát sinh rủi ro [Nguồn: Commercial Banking-The Management of Risk, Gup, 2007] LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 + Rủi ro giao dịch: là loại rủi ro tín dụng phát sinh trong quá trình giao dịch, nguyên nhân chủ yếu là do những hạn chế trong quá trình giao dịch và phê duyệt cho vay, đánh giá khách hàng. Rủi ro giao dịch bao gồm 3 bộ phận chính là rủi ro xét duyệt, rủi ro bảo đảm và rủi ro kiểm soát. Rủi ro xét duyệt là rủi ro tín dụng xảy ra trong quá trình đánh giá và phân tích tín dụng, khi ngân hàng lựa chọn những khách hàng có phƣơng án vay vốn có tính khả thi cao, khả năng tài chính tốt để ra quyết định cho vay. Rủi ro bảo đảm là rủi ro tín dụng phát sinh do các yếu tố nhƣ loại tài sản đảm bảo, cách thức đảm bảo, chủ thể đảm bảo, các điều khoản trong hợp đồng tín dụng và tỷ lệ giá trị của tài sản thế chấp trên giá trị cho vay.
Rủi ro kiểm soát là loại rủi ro tín dụng phát sinh trong hoạt động cho vay và công tác quản lý khoản vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ và các phƣơng thức xử lý các khoản cho vay có vấn đề. + Rủi ro danh mục tín dụng: Là một hình thức rủi ro tín dụng mà phát sinh do những hạn chế trong quá trình quản lý, lựa chọn danh mục cho vay của Ngân hàng. Rủi ro danh mục tín dụng gồm 2 bộ phận chính là rủi ro cá biệt và rủi ro tập trung cho vay. Rủi ro cá biệt: phát sinh do những yếu tố, các đặc thù, đặc trƣng bên trong của các khách hàng vay hoặc do những đặc điểm riêng của các ngành, lĩnh vực kinh tế.
Nó phát sinh từ những hoạt động kinh doanh đặc thù của khách hàng hoặc phát sinh từ cách thức, phƣơng pháp, mục đích sử dụng vốn đặc biệt của khách hàng vay vốn. Rủi ro tập trung cho vay: phát sinh nguyên nhân là do ngân hàng tập trung cấp tín dụng quá nhiều đối với một số khách hàng hoặc cho vay tập trung vào một số doanh nghiệp hoạt động trong một số ngành, lĩnh vực kinh tế, hoặc tập trung cho vay quá nhiều vào một khu vực, địa bàn hoạt động nào đó, hoặc cùng cho vay tập trung vào một phƣơng thức cho vay mà có mức độ rủi ro cao. - Căn cứ vào mức độ tổn thất, có thể chia rủi ro tín dụng ra làm 2 nhóm là rủi ro mất vốn và rủi ro đọng vốn; LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 12 + Rủi ro mất vốn: Rủi ro mất vốn là rủi ro khi ngƣời vay không có khả năng trả đƣợc nợ theo hợp đồng, bao gồm vốn gốc hoặc lãi vay, ngân hàng chỉ trông chờ vào giá trị thanh lý tài sản của doanh nghiệp. Rủi ro mất vốn sẽ làm (i) tăng chi phí do nợ khó đòi tăng, chi phí quản trị, chi phí giám sát (ii) giảm lợi nhuận do các khoản dự phòng gia tăng cho những khoản vốn mất đi.
+ Rủi ro đọng vốn: Rủi ro đọng vốn là rủi ro xảy ra trong trƣờng hợp đến hạn mà ngân hàng vẫn chƣa thu hồi vốn vay, dẫn đến các khoản vốn bị đông cứng và ảnh hƣởng đến ngân hàng trên hai phƣơng diện: (i) ảnh hƣởng đến kế hoạch sử dụng vốn của ngân hàng, (ii) gặp khó khăn cho việc thanh toán cho khách hàng. - Căn cứ theo đối tƣợng sử dụng, có thể chia làm ba nhóm: + Rủi ro khách hàng cá thể: rủi ro tín dụng xảy ra đối với đối tƣợng khách hàng là cá nhân. + Rủi ro công ty, tổ chức kinh tế, định chế tài chính: rủi ro tín dụng xảy ra đối với khách hàng là công ty, tổ chức kinh tế, định chế tài chính. + Rủi ro quốc gia hay khu vực địa lý: rủi ro tín dụng xảy ra đối với từng quốc gia đối với hoạt động vay nợ, viện trợ.
- Căn cứ phạm vi của rủi ro tín dụng, có thể phân rủi ro tín dụng thành rủi ro cá biệt và rủi ro hệ thống. Trong thực tiễn hoạt động tín dụng, cách phân loại rủi ro tín dụng theo phạm vi rủi ro sẽ giúp cho ngân hàng đƣa ra các giải pháp quản trị rủi ro phù hợp và hữu hiệu nhất. + Rủi ro tín dụng cá biệt: là rủi ro tín dụng xảy ra đối với một khoản vay của một khách hàng cụ thể, thuộc một nhóm ngành cụ thể. Rủi ro tín dụng cá biệt xảy ra do một số nguyên nhân: (i) Đặc điểm ngành và loại hình kinh tế của khách hàng: (ii) Tình hình tài chính của khách hàng, (iii) Khả năng quản trị của khách hàng, (iv) Đạo đức khách hàng, (v) Các nguyên nhân khác.
Tóm lại, việc nghiên cứu rủi ro cá biệt sẽ giúp ngân hàng đa dạng hóa hoạt động tín dụng để giảm thiểu rủi ro, đem lại hiệu quả cho ngân hàng. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 13 + Rủi ro tín dụng hệ thống: là rủi ro tín dụng xảy ra không chỉ đối với một ngân hàng mà mang tính chất hệ thống, lan truyền đến cả khu vực ngân hàng. Nguyên nhân của rủi ro hệ thống bao gồm: sự thay đổi chính sách thể hiện ở chính sách tài chính tiền tệ, chính sách thuế, chính sách xuất nhập khẩu; các yếu tố vĩ mô của nền kinh tế ảnh hƣởng đến rủi ro hệ thống bao gồm: tỉ lệ lạm phát, tỷ lệ thất nghiệp, GDP, chỉ số chứng khoán, chỉ số giá tiêu dùng; luật pháp và môi trƣờng đầu tƣ và các yếu tố bất khả kháng.