CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬNVỀ QUẢN TRỊ RỦI RO THANH KHOẢN 1. Khái niệm thanh khoản Thanh khoản đại diện cho khả năng thực hiện tất cả các nghĩa vụ thanh toán khi đến hạn – đến mức tối đa và bằng đơn vị tiền tệ được quy định.(1) Thanh khoản liên quan đến các dòng lưu chuyển tiền tệ.Việc không thể thực hiện nghĩa vụ thanh toán sẽ dẫn đến tình trạng thiếu khả năng thanh khoản.(2) Một TSC được coi là có tính thanh khoản cao khi chi phí chuyển hóa thành tiền thấp và có khả năng chuyển hóa ra tiền nhanh, ngược lại là một TSC có tính thanh khoản thấp. Một số TSC có tính thanh khoản cao là: tiền mặt, trái phiếu kho bạc, thương phiếu, hối phiếu,…Một số TSC có khả năng thanh khoản thấp, bao gồm: bất động sản, máy móc thiết bị, các khoản góp vốn và đầu tư dài hạn,… Một TSN được coi là có tính thanh khoản cao khi chi phí huy động vốn thấp và thời gian huy động nhanh, ngược lại là một TSN có tính thanh khoản thấp. Một số TSN có tính thanh khoản cao là: tiền gửi thanh toán, tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn,… Một số TSN có tính thanh khoản thấp là: tiền gửi/vay trung dài hạn (từ TCTD, TCKT, dân cư),… Khả năng và yêu cầu về thanh khoản được thể hiện trong nguồn cung và cầu thanh khoản, cụ thể: - Cung thanh khoản: là số tiền có sẵn hoặc có thể có trong thời gian ngắn để ngân hàng sử dụng, các bộ phận tạo nên nguồn cung thanh khoản bao gồm: tiền gửi của khách hàng (S1),doanh thu từ các dịch vụ (S2),tín dụng được trả (S3),bán tài sản (S4),vay thị trường tiền tệ (S5).
- Cầu thanh khoản: là số tiền ngân hàng có nhu cầu chi trả ngay lập tức trong một thời gian ngắn. Các bộ phận tạo nên cầu thanh khoản bao gồm: khách hàng rút các khoản tiền gửi (D1),cấp tín dụng cho khách hàng (D2),hoàn trả các khoản đi vay (D3); chi phí nghiệp vụ và thuế (D4),chi trả cổ tức bằng tiền (D5). Trạng thái thanh khoản Chênh lệch giữa tổng cung thanh khoản và tổng cầu thanh khoản tại một thời điểm tạo nên trạng thái thanh khoản ròng (NLP - net liquidity position) hay còn gọi (Nguồn (1) & (2): Quản lý thanh khoản trong ngân hàng - Rudolf Duttweiler, 2011, trang 23) TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 2 là khe hở thanh khoản, trạng thái thanh khoản ròng (3) được xác định như sau: Trạng thái thanh = ∑Cung thanh khoản – ∑Cầu thanh khoản khoản ròng NLP = (S1+ S2 + S3 + S4 + S5) – (D1+ D2 + D3 + D4 + D5) 1. Trạng thái cân bằng thanh khoản (khi NLP=0) Khi nguồn cung thanh khoản bằng với nguồn cầu thanh khoản, ngân hàng sẽ đạt được vị thế cân bằng thanh khoản.
Tuy nhiên, trong thực tế trạng thái này rất hiếm khi xảy ra, và nếu có xảy ra thì chỉ là trạng thái tức thời, tức là ngân hàng chỉ duy trì được điểm cân bằng này trong một khoảng thời gian rất ngắn. Thông thường, thanh khoản ngân hàng thường ở vào một trong hai vị thế là: thặng dư thanh khoản hoặc thâm hụt thanh khoản. Trạng thái thặng dư thanh khoản (khi NLP>0) Khi nguồn cung thanh khoản lớn hơn nguồn cầu thanh khoản, ngân hàng sẽ bị rơi vào tình trạng dư thừa thanh khoản. Vì vậy, nhà quản trị ngân hàng phải đưa ra quyết định: Nên đầu tư ở đâu? Kỳ hạn nào? Với giá bao nhiêu?.
nhằm tận dụng triệt để nguồn thanh khoản thừa để đầu tư kiếm lời. Thừa thanh khoản là một trạng thái mất cân bằng của các NHTM, xảy ra khi nền kinh tế hoạt động kém hiệu quả, ngân hàng không tiếp cận được với khách hàng hoặc không lựa chọn được nhiều khách hàng để cho vay. Trong phạm vi của một ngân hàng thì đây là việc không khai thác hết tiềm năng sinh lời của TSC, chiếm giữ quá nhiều TSC ở dạng trực tiếp hay giám tiếp không có khả năng sinh lời cao (Ví dụ: tồn quỹ tiền mặt quá lớn); hoặc có thể do ngân hàng tăng vốn quá nhanh trong khi chưa có phương án xử lý vốn hiệu quả. Thanh khoản thừa thường được các ngân hàng xử lý bằng cách: mua các chứng khoán dự trữ thứ cấp đã bán ra trước đó; cho vay trên thị trường tiền tệ (phù hợp với thời hạn nhàn rỗi của số thanh khoản thừa); gửi tiền tại các TCTD khác,… 1.
Trạng thái thiếu hụt thanh khoản (Khi NPL<0) Khi nguồn cung thanh khoản thấp hơn nguồn cầu thanh khoản, ngân hàng sẽ bị rơi vào tình trạng thiếu vốn để hoạt động. Ở trạng thái này, ngân hàng dễ để mất những cơ hội đầu tư tốt có thể mang lại lợi nhuận cao, thậm chí có thể mất khách hàng vay vốn lẫn gửi vốn. Vì khi ngân hàng thiếu vốn sẽ giảm lòng tin của người (Nguồn (3): Quản trị ngân hàng của PGS.Trần Huy Hoàng, 2010 [trang 187] TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 3 gửi tiền, khả năng huy động vốn của ngân hàng sẽ kém đi. Một số giải pháp thông dụng nhất mà ngân hàng thường áp dụng để bù đắp thanh khoản gồm có: sử dụng DTBB dư ra nếu có (do tiền gửi kỳ hạn này giảm so với kỳ trước); bán bớt nguồn dự trữ thứ cấp (các chứng khoán doChính phủ hoặc NHNN phát hành); vay qua đêm, vay tái chiết khấu tại NHNN; huy động từ thị trường tiền tệ (phát hành GTCG để huy động vốn,…) 1.
Rủi ro thanh khoản 1. Khái niệm rủi ro thanh khoản Là loại rủi ro xuất hiện trong trường hợp ngân hàng thiếu khả năng chi trả, không chuyển đổi kịp các loại tài sản ra tiền hoặc không có khả năng vay mượn để đáp ứng yêu cầu của các hợp đồng thanh toán.(4) RRTK làm cho hoạt động của ngân hàng bị đình trệ, gây thua lỗ, mất uy tín và nếu nghiêm trọng có thể dẫn đến phá sản. RRTK có thể xuất phát từ những nguyên nhân như: sự nhạy cảm của tài sản tài chính với những thay đổi lãi suất; do ngân hàng suy giảm về niềm tin; do sự mất cân đối về thời hạn giữa nguồn vốn huy động và đầu tư vốn; do khách hàng rút tiền ồ ạt, tức thời; hoặc liên quan đến các cam kết tín dụng của ngân hàng, các khoản ngoại bảng;… Điều đó cho thấy, thanh khoản không phải là một yếu tố dẫn đầu mà chỉ là yếu tố đi theo. RRTK thường chịu tác động bởi những rủi ro sau: (xem hình 1.1 - Các yếu tố kéo theo RRTK, trang 4) 1.
Phân loại rủi ro thanh khoản Về mặt cấu trúc, RRTK thường được chia thành 4 nhóm sau đây: 1. Rủi ro thanh khoản rút tiền trước hạn Là rủi ro những khoản tiền gửi có thể bị rút mạnh tay trước khi đến hạn thay vì được gia hạn. Việc rút tiền dựa trên cơ sở cam kết giữa ngân hàng và khách hàng khi ký kết hợp đồng. Do rút tiền trước hạn nên ngân hàng phải giảm một lượng tiền (tiền mặt, tiền gửi) để chi trả cho khách hàng gửi tiền.
Chính vì vậy, cả hai bên cân đối của ngân hàng, bao gồm TSC và TSN, cùng bị giảm. Rủi ro thanh khoản có kỳ hạn Là rủi ro do thời hạn thanh toán khác đi so với các điều kiện đã thỏa thuận trên hợp đồng (Ví dụ: việc trả nợ có thể bị trì hoãn). Do lượng tiền thu vào bị trì hoãn (Nguồn (4): Quản trị ngân hàng của PGS. Trần huy Hoàng, 2011, trang 185) TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.1: Các yếu tố kéo theo rủi ro thanh khoản Rủi ro kinh doanh - Rủi ro về mặt chiến lược - Rủi ro về danh tiếng Rủi ro từ khách hàng Rủi ro giá thị trường - Rủi ro từ lệnh bán - Rủi ro lãi suất - Rủi ro từ giao dịch - Rủi ro về tỷ giá giao sau - Rủi ro về quyền chọn - Rủi ro về hành vi RỦI RO THANH KHOẢN Rủi ro từ hoạt động Rủi ro tín dụng kinh doanh - Rủi ro cho vay - Cấu trúc tổ chức - Rủi ro do đối tác không đầy đủ - Dữ liệu sai - Rủi ro từ đơn vị phát - Mô hình không đầy đủ hành Rủi ro theo sự kiện - Rủi ro pháp lý - Rủi ro chính trị - Rủi ro quốc gia “Nguồn: Quản lý thanh khoản trong ngân hàng của Rudolf Duttweiler, 2010 [Trang 26]” nên làm ảnh hưởng đến kế hoạch thanh toán dự kiến của ngân hàng.
Chính vì vậy, rủi ro này cũng tác động cả hai phía TSC và TSN. Rủi ro thanh khoản tài trợ Là rủi ro do tài sản không được tài trợ hợp lý. Việc tài trợ có thể gặp phải những điều kiện bất lợi, hay nói cách khác là tài trợ với chi phí mắc hơn. Trong trường hợp xấu có thể dẫn đến rủi ro rút tiền ồ ạt như đã nói ở nhóm RRTK rút tiền trước hạn.
Cho nên, rủi ro này tác động cả TSC và TSN. Rủi ro thanh khoản thị trường Là rủi ro phát sinh do những điều kiện bất lợi của thị trường làm giảm khả năng chuyển các tài sản khả nhượng thành tiền mặt hoặc tài trợ cho số lượng cần thiết hoặc là cùng xảy ra cả hai tác động. Do vậy, rủi ro này liên quan đến cả TSN lẫn TSC. Những biểu hiện về rủi ro thanh khoản 1.
Rủi ro thanh khoản gắn liền với hoạt động tài trợ Rủi ro này thường thể hiện qua việc nguồn vốn bị cắt giảm ngoài dự kiến, TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 như: nguồn tiền gửi bị giảm mạnh do sự suy giảm uy tín của ngân hàng; nguồn tiền gửi được chuyển sang ngân hàng khác do thay đổi trong lãi suất tiền gửi; lượng tiền tiết kiệm bị suy giảm đột biến do nhu cầu rút vốn của người gửi tiền; khó khăn tăng lên trong việc tìm nguồn vốn mới (khó khăn tăng lên trong nguồn tài trợ từ thị trường tài chính gắn liền với sự suy giảm trong hoạt động của thị trường; và năng lực tìm nguồn tài trợ mới bị giảm đi do uy tín bị giảm đi) ;… 1. Rủi ro thanh khoản gắn liền với đầu tư Gồm các biểu hiện như: tình trạng không thu hồi được các khoản đầu tư trên thị trường và các khoản cho vay do sự đổ vỡ trong đầu tư của thị trường và các con nợ bị phá sản; mức tăng đầu tư ngoài dự kiến do một khoản vốn lớn bị rút đi trong khuôn khổ các thỏa thuận cam kết; … 1. Rủi ro thanh khoản gắn liền với các yếu tố khác Tình trạng thiếu nguồn vốn đổ vào do hệ thống máy tính bị trục trặc kỹ thuật; hệ thống thanhtoán có vấn đề;… 1. Quản trị rủi ro thanh khoản 1.