Chương 1: Cơ sở lý luận về quản trị RRTK trong ngân hàng thương mại Chương 2: Thực trạng quản trị RRTK tại Ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt Nam Chương 3: Giải pháp cho quản trị RRTK tại Ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt Nam 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO THANH KHOẢN TRONG NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.1 Thanh khoản của NHTM 1.1 Khái niệm thanh khoản Hệ thống ngân hàng là huyết mạch của cả nền kinh tế nên khả năng thanh khoản của hệ thống ngân hàng phản ánh khả năng thanh khoản của nền kinh tế. Khi hệ thống ngân hàng mất khả năng thanh khoản cũng là lúc nền kinh tế rơi vào khủng hoảng. Tổng giám đốc Ngân hàng Thanh toán quốc tế (Bank for International Settlements), Malcolm D.Knight cho rằng thanh khoản chính là dầu bôi trơn các bánh răng trong cỗ máy tài chính. Thanh khoản đóng vai trò “bôi trơn” cho hoạt động của các ngân hàng, nếu thanh khoản của một ngân hàng không đảm bảo có thể kéo theo sự ngưng trệ hoạt động của hệ thống tài chính không chỉ một nước mà còn lan sang nhiều nước khác.
Chính vì thế, một trong những nhiệm vụ quan trọng mà các nhà quản lý phải thực hiện là đảm bảo thanh khoản hợp lý cho ngân hàng. “Một ngân hàng được xem là có khả năng thanh khoản tốt nếu như ngân hàng có thể có được những khoản vốn khả dụng với chi phí thấp đúng tại thời điểm ngân hàng có nhu cầu. Điều này cho thấy, ngân hàng có khả năng thanh khoản tốt khi ngân hàng có trong tay lượng vốn khả dụng với quy mô hợp lý hoặc ngân hàng có thể nhanh chóng huy động vốn thông qua con đường vay nợ hay bán tài sản” (Peter S. Tóm lại, “thanh khoản của NHTM là khả năng ngân hàng tiếp cận các tài sản hoặc nguồn vốn có thể dùng để chi trả với chi phí hợp lý ngay khi nhu cầu vốn phát sinh” (Trần Huy Hoàng, 2011, trang 232).2 Cung – cầu thanh khoản và trạng thái thanh khoản ròng 1.1 Cung thanh khoản Nguồn cung cấp thanh khoản cho ngân hàng bao gồm: Các khoản tiền gửi đang đến; doanh thu từ việc bán các dịch vụ phi tiền gửi; thu hồi tín dụng đã cấp; bán các tài sản đang kinh doanh và sử dụng; vay từ thị trường tiền tệ (Trần Huy Hoàng, 2011, trang 234-235).
4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.2 Cầu thanh khoản Trong ngân hàng, những hoạt động tạo ra nhu cầu thanh khoản bao gồm: Khách hàng rút các khoản tiền gửi; yêu cầu cấp các khoản tín dụng có chất lượng cao; hoàn trả các khoản vay mượn phi tiền gửi; chi phí phát sinh khi kinh doanh các sản phẩm và dịch vụ; thanh toán cổ tức cho các cổ đông (Trần Huy Hoàng, 2011, trang 235).3 Trạng thái thanh khoản ròng (Trần Huy Hoàng, 2011, trang 235-236) Ở bất cứ thời điểm nào, các nguồn cung và nhu cầu thanh khoản đến cùng lúc và tạo thành trạng thái thanh khoản ròng (NLP) được xác định như sau: NLP = Tổng cung thanh khoản – Tổng cầu thanh khoản Ở đây có thể xảy ra một trong ba trường hợp: Thặng dư thanh khoản (NLP>0): Khi cung thanh khoản vượt quá cầu thanh khoản, ngân hàng đang ở trạng thái thừa thanh khoản, ngân hàng thừa khả năng thanh toán và RRTK thấp. Nhà quản trị ngân hàng phải ra quyết định ở đâu và vào thời điểm nào cần phải dùng nguồn thanh khoản thừa đầu tư kiếm lời cho đến khi nguồn thanh khoản thừa này được sử dụng để đáp ứng cho nhu cầu thanh khoản trong tương lai. Thừa thanh khoản là trạng thái mất cân bằng của các NHTM, xảy ra khi nền kinh tế hoạt động kém hiệu quả, ngân hàng không tiếp cận được với khách hàng hoặc không lựa chọn được nhiều khách hàng để cho vay. Trong phạm vi một ngân hàng, đây là việc không khai thác được hết tiềm năng sinh lời của tài sản Có, chiếm giữ quá nhiều tài sản Có ở dạng trực tiếp hay gián tiếp không có khả năng sinh lời (chẳng hạn như tồn quỹ tiền mặt quá lớn); hoặc cũng có thể do ngân hàng tăng vốn quá nhanh trong khi chưa có phương án sử dụng vốn hiệu quả.
Thanh khoản thừa thường được sử dụng để: - Mua các chứng khoán dự trữ thứ cấp đã bán trước đó. - Cho vay trên thị trường tiền tệ (phù hợp với thời hạn nhàn rỗi của số thanh khoản thừa). - Gửi tiền tại các TCTD khác… Thiếu hụt thanh khoản (NLP<0): Khi cầu thanh khoản lớn hơn cung thanh khoản, ngân hàng đang ở trạng thái thiếu hụt thanh khoản, RRTK rất dễ xảy ra. Nhà quản trị ngân hàng phải quyết định ở đâu và vào thời điểm nào cần phải bổ sung thanh khoản để đáp ứng 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nhu cầu vốn với chi phí thấp nhất và kịp thời nhất, tăng thêm các nguồn vốn để chuyển thành tiền mặt và chi phí bao nhiêu thì hợp lý.
Khi ngân hàng không đủ vốn đáp ứng nhu cầu chi trả cho khách hàng, cho nhu cầu vay vốn của doanh nghiệp, của nền kinh tế,… có thể gọi là thiếu vốn tuyệt đối, thiếu vốn đối với nhu cầu cho vay và đầu tư cho nền kinh tế. Thiếu vốn tuyệt đối dễ để mất những cơ hội đầu tư tốt có thể mang lại lợi nhuận cho ngân hàng, thậm chí có khả năng mất khách hàng khi họ phải đến ngân hàng khác để được đáp ứng kịp thời nhu cầu vay. Từ việc mất khách hàng vay vốn có thể dẫn đến mất khách hàng tiền gửi. Ngân hàng có thể áp dụng các biện pháp sau để tăng thanh khoản: - Sử dụng dự trữ bắt buộc dư ra nếu có (do tiền gửi kỳ này giảm so với kỳ trước).
- Bán dự trữ thứ cấp (các chứng khoán ngắn hạn do Chính phủ phát hành). - Vay qua đêm, tái chiết khấu tại NHNN. - Huy động từ thị trường tiền tệ như phát hành chứng chỉ tiền gửi có mệnh giá lớn để huy động vốn… Cân bằng thanh khoản (NLP=0): Khi cung thanh khoản bằng với cầu thanh khoản, ngân hàng đang ở tình trạng cân bằng thanh khoản. Tuy nhiên, tình trạng này rất ít xảy ra trong thực tế.3 Vai trò của thanh khoản đối với NHTM Ngân hàng thường xuyên huy động tiền gửi ngắn hạn (với lãi suất thấp) và cho vay số tiền đó với thời hạn dài hạn (lãi suất cao hơn) nên về cơ bản ngân hàng luôn có nhu cầu thanh khoản rất lớn.
Thanh khoản có ba vai trò đặc biệt quan trọng đối với ngân hàng: Thứ nhất, cần phải có thanh khoản để đáp ứng yêu cầu vay mới mà không cần phải thu hồi những khoản cho vay đang trong hạn hoặc thanh lý các khoản đầu tư có kỳ hạn. Thứ hai, cần có thanh khoản để đáp ứng tất cả các nhu cầu rút tiền hàng ngày hay theo mùa vụ một cách kịp thời. Thứ ba, thanh khoản còn ảnh hưởng đến lòng tin của người gửi tiền và người cho vay. Những nghiên cứu gần đây chứng tỏ rằng hiện tượng thiếu hụt thanh khoản thường là một trong những dấu hiệu đầu tiên cho thấy ngân hàng đang ở trong tình trạng khó khăn tài chính nghiêm trọng.
Hậu quả tiếp theo có thể là ngân hàng mất dần các khoản tiền gửi cũ vì 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com áp lực rút tiền ngày gia tăng, ngân hàng cũng không thể thu hút thêm các khoản tiền gửi mới do thái độ dè dặt của người dân đối với ngân hàng; một số ngân hàng ở trong tình thế cho vay hỗ trợ một cách miễn cưỡng vì phải huy động vốn với cao hơn lãi suất cho vay, càng làm suy giảm lợi nhuận của ngân hàng.4 Phƣơng pháp đo lƣờng thanh khoản Khả năng thanh khoản của ngân hàng được đánh giá qua việc ngân hàng đáp ứng nhu cầu về vốn cho hoạt động của mình. Những yếu tố cần xem xét bao gồm mức độ biến động của tiền gửi, mức độ phụ thuộc vào nguồn vốn nhạy cảm với rủi ro, khả năng sẵn có của những tài sản có thể chuyển đổi nhanh chóng thành tiền mặt, khả năng tiếp cận thị trường tiền tệ, mức độ hiệu quả nói chung của chiến lược, chính sách quản lý tài sản Nợ và tài sản Có của ngân hàng, tuân thủ với các chính sách thanh khoản nội bộ ngân hàng, nội dung, quy mô và khả năng sử dụng dự kiến của các cam kết cấp tín dụng. Tuy nhiên, rất khó có thể xây dựng một thước đo duy nhất có thể định lượng hay bao quát được đầy đủ khả năng thanh khoản, mức độ đủ vốn, chất lượng tài sản có và lợi nhuận của ngân hàng do có nhiều khác biệt về quy mô, hoạt động giữa các ngân hàng khác nhau, cũng như do ảnh hưởng của điều kiện thị trường khu vực, quốc gia và quốc tế. Không có một tỷ lệ nào thực sự bao hàm được hết các khía cạnh khác nhau của thanh khoản đối với tất cả các ngân hàng với quy mô và loại hình khác nhau.
Các phương pháp sau đây thường được các ngân hàng sử dụng để ước lượng khả năng thanh khoản: - Phương pháp chỉ số thanh khoản - Phương pháp xác suất theo tình huống - Phương pháp cấu trúc tiền gửi - Phương pháp nguồn vốn và sử dụng vốn 1.1 Phƣơng pháp chỉ số thanh khoản (Nguyễn Duy Sinh, 2009) Phương pháp tính toán nhu cầu thanh khoản này dựa trên cơ sở kinh nghiệm riêng có và các chỉ số trung bình của ngành ngân hàng. Thông thường các chỉ số thanh khoản sau đây hay được dùng để đánh giá khả năng thanh khoản của ngân hàng: 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tỷ lệ vốn tự có trên nguồn vốn huy động (H1): Vốn tự có H1 = Tổng vốn huy động Chỉ số H1 phản ánh thanh khoản của ngân hàng thông qua tỷ lệ giữa mức vốn tự có và nguồn vốn huy động. Chỉ số này cao tức là khả năng thanh khoản của ngân hàng tốt. Tỷ lệ vốn tự có trên tổng tài sản có (H2): Vốn tự có H2 = Tổng tài sản Có Chỉ số này dùng để đánh giá mức độ rủi ro của tổng tài sản Có.
Chỉ số này càng cao tức là khả năng thanh khoản của ngân hàng càng tốt. Chỉ số trạng thái tiền mặt (H3): Tiền mặt + Tiền gửi tại các TCTD H3 = Tổng tài sản Có Chỉ số này càng cao tức là ngân hàng có khả năng tốt trong việc giải quyết nhu cầu tiền mặt tức thời. Do đó, khả năng thanh khoản của ngân hàng càng tốt.