CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO THANH KHOẢN TRONG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Tổng quan về rủi ro thanh khoản 1. Thanh khoản và r ủi ro thanh khoản Theo Trần Huy Hoàng (2007), Thanh khoản là khả năng tiếp cận các khoản tài sản hoặc nguồn vốn có thể dùng để chi trả với chi phí hợp lý ngay khi nhu cầu vốn phát sinh. Một nguồn vốn được coi là có tính thanh khoản cao khi chi phí huy động thấp và thời gian huy động nhanh.
Một tài sản được coi là có tính thanh khoản cao khi chi phí chuyển hóa thành tiền thấp và có khả năng chuyển hóa ra tiền nhanh. Rủi ro thanh khoản là loại rủi ro xuất hiện khi ngân hàng sụt giảm hoặc mất khả năng chi trả, không chuyển đổi kịp các loại tài sản ra tiền hoặc không có khả năng vay mượn để đáp ứng nhu cầu thanh toán. Các nguyên nhân dẫn đến rủi ro thanh khoản Theo Nguyễn Đăng Dờn và cộng sự (2010), tình trạng khó khăn về thanh khoản của ngân hàng xuất phát từ n hững nguyên nhân chính như sau: Thứ nhất, ngân hàng vay mượn quá nhiều các khoản tiền gửi ngắn hạn từ các cá nhân và định chế tài chính khác; sau đó chuyển hoá chúng thành những tài sản đầu tư dài hạn. Cho nên, đã xảy ra tình trạng mất cân đối về kỳ hạn gi ữa nguồn vốn và sử dụng vốn, mà thường gặp là dòng tiền thu hồi từ tài sản đầu tư nhỏ hơn dòng tiền chi ra để trả tiền gửi đến hạn.
Thứ hai, sự thay đổi của lãi suất có thể tác động đến cả người gửi tiền và người vay vốn. Khi lãi suất giảm, một số người gửi tiền rút vốn khỏi ngân hàng để đầu tư vào nơi có tỷ suất sinh lợi cao hơn; còn những người đi vay tích cực tiếp cận các khoản tín dụng vì lãi suất đã thấp hơn trước. Như vậy, rốt cuộc lãi suất thay đổi sẽ ảnh hưởng trạng thái thanh khoản của ngân hàng. H ơn nữa, những xu hướng của sự thay đổi lãi suất còn ảnh hưởng đến giá trị thị trường của các tài sản mà ngân hàng có thể đem bán để tăng thêm nguồn cung thanh khoản và trực tiếp ảnh hưởng đến chi phí vay mượn trên thị trường tiền tệ.
Thứ ba, do ngân hàng thiếu quan tâm và chưa làm tốt công tác quản trị thanh khoản: duy trì dự trữ ở mức độ quá thấp và không hợp lý, thiếu biện pháp để ngăn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 chặn nguồn tiền gửi sụt giảm, chưa có phương án dự phòng hữu hiệu khi có hiện tượng mức tiền gửi suy giảm đột biến, chưa linh hoạt trong kinh doanh nguồn vốn. Thứ tư, do hoạt động kinh doanh của ngân hàng không có hiệu quả hoặc bị thua lỗ kéo dài. Đây là nguyên nhân rất nghiêm trọng, vì bắt nguồn từ hiệu quả kinh doanh khiến người dân mất lòng tin, hoài nghi và lo sợ mất vốn. Cung và cầu thanh khoản Theo Đặng Hữu Hạnh (2013), khả năng và yêu cầu về thanh khoản của một NH được thể hiện trong nguồn cung và cầu thanh khoản.
Cung về thanh khoản Mức cung về thanh khoản hay các dòng tiền thu vào bao gồm các nguồn sau: - Tiền gửi mới vào NH của khách hàng bao gồm các loại tiền gửi mới - tiền gửi bổ sung hay kéo dài thời hạn tiền gửi mới. Tiền gửi loại này được xem là nguồn cung thanh khoản quan trọng nhất của NH để duy trì được các nhu cầu thanh khoản thường xuyên. - Khách hàng hoàn trả số tiền cho vay của NH: đây là nguồn cung thanh khoản quan trọng thứ hai cung cấp các số vốn mới cho NH để NH đáp ứng được các nhu cầu thanh khoản mới. Hoạt động cho vay là hoạt động chủ yếu của NH vì đem lại nguồn thu lớn nhất cho NH tuy nhiên cũng mang lại nhiều rủi ro cho NH nếu người vay không trả vốn gốc và lãi đúng hạn, hoặc ngay cả khi họ phá sản mất khả năng chi trả cho NH.
- Các thu nhập từ việc bán các dịch vụ không phải tiền gửi: thu nhập loại này đến chủ yếu từ các dịch vụ như phát hành và thông báo thư tín dụng L/C trong ngoại thương, thực hiện bảo lãnh cho khách hàng, kinh doanh ngoại tệ, hoạt động cố vấn tài chính, đầu tư cho khách hàng… - Bán các tài sản của NH: để đáp ứng các nhu cầu thanh khoản, NH có thể bán ra các tài sản có tính thanh khoả n để có được lượng tiền mặt ngay. Các tài sản có tính thanh khoản của NH chủ yếu bao gồm các loại như trái phiếu, tín phiếu kho bạc, hoặc các trái phiếu, cổ phiếu của các NH và các công ty lớn có uy tín. - Vay mượn từ các thị trường tiền tệ: NH lúc thiếu hụt thanh khoản có thể đi vay trên thị trường tiền tệ, bao gồm các khoản vay mới, gia hạn thời hạn vay và tuần hoàn khoản nợ vay hay ký kết hạn mức tín dụng. Tuy nhiên cần lưu ý đối với các NH lớn, có uy tín, việc vay mượn tương đối dễ dàng nhưng đối với các NH nhỏ, như tại LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 VN vào các tháng cuối năm 2011 và đầu năm 2012, việc vay mượn của NH loại này gặp nhiều khó khăn, như phải có tài sản thế chấp, chịu lãi suất rất cao, vay mượn với số lượng nhỏ.
Trong các tháng cuối năm và đầu năm 2012 các NH nhỏ Việt Nam thiếu hụt thanh khoản rất lớn, một phần vì NHNN khống chế trần lãi suất huy động tối đa chỉ 14% so với những tháng trước đó của năm 2011 lên tới 18%. Cầu về thanh khoản Mức cầu về thanh khoản hay các dòng tiền chi ra diễn tiến qua các khoản mục như sau: - Khách hàng rút tiền đã gửi: đây là các nhu cầu thanh khoản xảy ra hàng ngày, ngay lập tức và vô điều kiện. Tiền gửi ngân hàng thuộc các loại: + Tiền gửi không kỳ hạn + Tiền gửi phát hành séc + Tiền gửi kỳ hạn có thể rút trước hạn (chịu lãi suất gửi rất thấp) + Tiền gửi kỳ hạn được thanh toán khi đáo hạn - Các nhu cầu vay tiền của các khách hàng có uy tín, lâu dài. Đây là khoản cho vay mà ngân hàng muốn duy trì và đáp ứng nhu cầu vay của khách hàng thân quen của mình.
Nhu cầu tín dụng của khách hàng bao gồm: + Cho vay mới + Gia hạn các khoản tiền vay đã đáo hạn phải trả vốn gốc và lãi + Sử dụng hạn mức tín dụng hay thực hiện cam kết - Hoàn trả nợ vay: là quan hệ tín dụng được thực hiện trên thị trường tiền tệ bao gồm: + Hoàn trả tiền vay từ các ngân hàng khác + Hoàn trả tiền vay từ NHTƯ và + Các thoả thuận mua lại - Các chi phí hoạt động và thuế phải gánh chịu trong việc kinh doanh các sản phẩm và dịch vụ: bao gồm các chi phí liên quan đến hoạt động như trả lương, tiền thưởng, bảo hiểm xã hội cho nhân viên, mua sắm các tài sản, phí sử dụng dịch vụ của các tổ chức khác và trả tiền thuế các loại. Thanh toán cổ tức bằng tiền mặt cho cổ đông NH bao gồm trả tiền cổ tức cho các loại cổ phần đã được NH phát hành. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Đánh giá trạng thái thanh khoản Trạng thái thanh khoản ròng NPL (net liquidity position) của một ngân hàng được xác định như sau: NPL = Tổng cung về thanh khoản - Tổng cầu về thanh khoản Có ba khả năng có thể xảy ra sau đây: Thặng dư thanh khoản: Khi cung thanh khoản vượt quá cầu thanh khoản (NPL>0), ngân hàng đang ở t rạng thái thặng dư thanh khoản.
Nhà quản trị ngân hàng phải cân nhắc đầu tư số vốn thặng dư này vào đâu để mang lại hiệu quả cho tới khi chúng cần được sử dụng đáp ứng nhu cầu thanh khoản trong tương lai. Thâm hụt thanh khoản: Khi cầu thanh khoản lớn hơn c ung thanh khoản (NPL<0), ngân hàng phải đối mặt với tình trạng thâm hụt thanh khoản. Nhà quản trị phải xem xét, quyết định nguồn tài trợ thanh khoản lấy từ đâu, bao giờ thì có và chi phí bao nhiêu. Cân bằng thanh khoản: Khi cung thanh khoản cân bằng với cầ u thanh khoản (NPL=0), tình trạng này được gọi là cân bằng thanh khoản.
Tuy nhiên, đây là tình trạng rất khó xảy ra trên thực tế. Tổng quan về quản trị rủi ro thanh khoản 1. Định nghĩa quản trị thanh khoản Quản trị thanh khoản là hoạt động quản trị tài sản và nguồn vốn của ngân hàng nhằm quản lý có hiệu quả của tính thanh khoản (tính lỏng) của tài sản và danh mục cấu trúc của nguồn vố n. Đáp ứ ng được các nhu cầu thanh toán, rút t iền của khách hàng một cách nhanh chóng, cũng như nhu cầu vay mới của khách hàng.
Là khả năng mà ngân hàng dễ dàng huy động được vốn từ thị trường với một mức lãi suất hợp lý không quá cao. Bản chất của công tác QTTK trong ngân hàng có thể đúc kết ở hai nội dung sau: Thứ nhất: hiếm khi nào tại một thời điểm tổng cung bằng với tổng cầu thanh khoản. Do đó, ngân hàng phải thường xuyên đối phó với tình trạng thâm hụt hoặc thặng dư thanh khoản. Thứ hai: thanh khoản và khả năng sinh lời là hai đại lượng tỷ lệ nghịch với nhau.
Một tài sản có tính thanh khoản càng cao thì khả năng sinh lời của nó sẽ càng thấp và n gược lại; mộ t ngân hàng có nguồn vốn có tính thanh khoản cao thường có chi phí huy động lớn (nên làm giảm khả năng sinh lời khi sử dụng để cho vay). LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 Thanh khoản mang ý nghĩa thời điểm rất lớn, theo nghĩa, một số yêu cầu thanh khoản là tức thời hoặc gần như tức thời. Chẳng hạn, một khoản tiền gửi lớn đến hạn và khách hàng không có ý định tiếp tục duy trì số vốn này tại ngân hàng; khi đó, ngân hàng buộc phải tìm kiếm các nguồn vốn có thể sử dụng ngay như vay từ TCTD khác. Ngoài ra, yếu tố thời vụ, chu kỳ cũng rất đáng quan trọng trong việc dự kiến cầu thanh khoản dài hạn.
Ví dụ, cầu về thanh khoản thường rất lớn vào mùa hè, cuối hè gắn với ngày tựu trường, ngày nghỉ và các kế hoạch du lịch của khách hàng. Việc kế hoạch được những yêu cầu thanh khoản này, sẽ giúp ngân hàng hoạch định được nhiều nguồn đáp ứng cầu thanh khoản dài hạn hơn là trong trường hợp đối với cầu thanh khoản ngắn hạn.