CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO THANH KHOẢN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Rủi ro thanh khoản của ngân hàng thương mại 1.1 Thanh khoản của ngân hàng thương mại 1.1 Khái niệm thanh khoản Theo định nghĩa của Uỷ ban Basel về giám sát Ngân hàng: “Thanh khoản của ngân hàng là khả năng của ngân hàng để tăng thêm tài sản và đáp ứng các nghĩa vụ nợ khi đến hạn mà không bị thiệt hại quá mức.” “Thanh khoản ngân hàng là việc ngân hàng có thể có được những khoản vốn khả dụng với chi phí thấp đúng tại thời điểm ngân hàng có nhu cầu.Rose (2001, trang 451) Theo Rudolf Duttweiler (2009, trang 23): “Thanh khoản đại diện cho khả năng thực hiện tất cả các nghĩa vụ thanh toán khi đến hạn – đến mức tối đa và bằng đơn vị tiền tệ được quy định. Do thực hiện bằng tiền mặt, thanh khoản chỉ liên quan đến các dòng lưu chuyển tiền tệ. Việc không thể thực hiện nghĩa vụ thanh toán sẽ dẫn đến tình trạng thiếu khả năng thanh khoản.” “Thanh khoản- Liquidity, là khả năng tiếp cận các khoản tài sản hoặc nguồn vốn có thể dùng để chi trả với chi phí hợp lý ngay khi nhu cầu vốn phát sinh.” Trần Huy Hoàng (2011, trang 232). Như vậy, thanh khoản là khả năng tiếp cận các tài sản hoặc nguồn vốn có thể với chi phí hợp lý để đáp ứng đầy đủ và kịp thời các nghĩa vụ tài chính phát sinh.
Cụ thể hơn, thanh khoản có thể được định nghĩa là khả năng đáp ứng tất cả các nghĩa vụ thanh toán khi đến hạn, các nhu cầu về sử dụng vốn khả dụng phục vụ cho hoạt động kinh doanh tại mọi thời điểm. Một nguồn vốn được coi là có tính thanh khoản cao khi đáp ứng được hai điều kiện sau: thứ 1 là chi phí huy động nguồn vốn đó phải thấp, thứ 2 là thời gian huy động nguồn vốn phải nhanh. Một tài sản có tính thanh khoản cao khi có chi phí chuyển hóa thành tiền thấp, và khả năng chuyển hóa thành tiền nhanh. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.2 Cung thanh khoản và cầu thanh khoản Cung và cầu thanh khoản thể hiện khả năng và yêu cầu của về thanh khoản của ngân hàng.
- Cung thanh khoản: “Cung thanh khoản là các khoản vốn làm tăng khả năng chi trả của ngân hàng, là nguồn cung cấp thanh khoản cho ngân hàng.” Trần Huy Hoàng (2011, trang 234) - Cầu thanh khoản: Trần Huy Hoàng (2011, trang 235); “Cầu thanh khoản, là nhu cầu vốn cho các mục đích hoạt động của ngân hàng, các khoản làm giảm quỹ của ngân hàng.” Những nghiệp vụ của cung và cầu thanh khoản: Cung thanh khoản Cầu thanh khoản + Các khoản tiền gửi (S1) + Khách hàng tất toán các khoản tiền gửi (D1) + Doanh thu từ việc bán các khoản + Yêu cầu cấp các khoản tín dụng (D2) dịch vụ (S2) + Hoàn trả các khoản vay mượn phi tiền gửi + Thu hồi tín dụng đã cấp (S3) (D3) + Bán các tài sản đang sử dụng và + Chi phí phát sinh khi kinh doanh các sản kinh doanh (S3) phẩm và dịch vụ (D4) + Vay mượn từ thị trường tiền tệ + Thanh toán cổ tức cho các cổ đông (D5) (S4) 1.3 Trạng thái thanh khoản Theo Trần Huy Hoàng (2011), ở bất kỳ thời điểm nào, các nguồn cung và cầu thanh khoản đến cùng với nhau và tạo thành trạng thái thanh khoản ròng (Net Liquidity Position –NLP ), trạng thái này có thể được xác định như sau: NLP = Tổng cung thanh khoản – Tổng cầu thanh khoản (NLPt) = (S1+S2+S3+S4+S5) – (D1+D2+D3+D4+D5) - Thặng dư thanh khoản khi NLPt dương, ngân hàng đang ở trong tình trặng dư thừa thanh khoản. Để đảm bảo có khả năng sinh lời nhiều nhất từ nguồn thanh khoản thặng dư này, nhà quản trị ngân hàng phải đưa ra quyết định sử dụng nguồn thanh khoản thặng dư này ở đâu và trong thời gian bao lâu để đầu tư kiếm lời cho LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 đến khi nguồn thanh khoản này được sử dụng để đáp ứng cho nhu cầu thanh khoản cần thiết trong tương lai. Thanh khoản thừa thường được ngân hàng dùng để mua các chứng khoán dự trữ thứ cấp, hoặc cho vay trên thị trường tiền tệ, hoặc gửi tại các tổ chức tín dụng khác. - Thiếu hụt thanh khoản khi NLPt âm, ngân hàng đang trong tình trạng thiếu hụt nguồn vốn để hoạt động.
Trong trường hợp này, nhà quản trị ngân hàng phải đưa ra quyết định bổ sung thanh khoản như thế nào để đáp ứng nhu cầu vốn với chi phí thấp nhất và kịp thời nhất. Chẳng hạn, ngân hàng có thể sử dụng các công cụ như dùng dự trữ bắt buộc dư ra nếu có, hoặc bán dự trữ thứ cấp ngân hàng sở hữu (trái phiếu chính phủ…), hoặc vay qua đêm, vay tái chiết khấu tại NHNN, hoặc huy động từ thị trường tiền tệ bằng việc phát hành chứng chỉ tiền gửi có mệnh giá lớn để huy động vốn… - Cân bằng thanh khoản khi khi NLPt = 0, ngân hàng đang trong tình trạng cung thanh khoản cân bằng với cầu thanh khoản. Đây là tình trạng rất khó xảy ra trên thực tế vì cung và cầu luôn có sự chênh lệch nhất định.2 Rủi ro thanh khoản trong ngân hàng thương mại 1.1 Khái niệm rủi ro thanh khoản (RRTK) Có nhiều định nghĩa khác nhau về RRTK: Theo Phan Thị Cúc (2006): “Đây là loại rủi ro xuất hiện trong trường hợp các ngân hàng thiếu khả năng chi trả, không chuyển đổi kịp các loại tài sản ra tiền hoặc không có khả năng vay mượn để đáp ứng yêu cầu của các hợp đồng thanh toán.” Theo Rudolf Duttweiler (2009, trang 37): “Rủi ro thanh khoản là nguy cơ không thể thực hiện các nghĩa vụ thanh toán, theo đó việc không thể thực hiện này sẽ kéo theo những hậu quả không mong muốn.” Vậy, RRTK là loại rủi ro khi ngân hàng không có khả năng cung ứng đầy đủ lượng tiền mặt cho nhu cầu thanh khoản tức thời; hoặc cung ứng đủ nhưng với chi phí cao. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.2 Nguyên nhân dẫn đến rủi ro thanh khoản Tính thanh khoản của ngân hàng được xem như là khả năng đáp ứng tức thời được nhu cầu rút tiền gửi của khách hàng và giải ngân các khoản tín dụng đã cam kết.
Do đó ngân hàng phải có trong tay lượng vốn khả dụng với chi phí thấp để đáp ứng yêu cầu vay mới của khách hàng mà không cần phải thu hồi những khoản vay cũ đang trong hạn hoặc thanh lý các khoản đầu tư có kỳ hạn. Ngân hàng cũng cần có thanh khoản tốt để có thể đáp ứng nhu cầu rút tiền của khách hàng một cách kịp thời, tránh ảnh hường đến lòng tin của người gửi tiền và người cho vay. Thanh khoản kém là nguyên nhân dẫn đến hầu hết các trường hợp đổ vỡ ngân hàng. Vậy những nguyên nhân nào dẫn đến RRTK? Thanh khoản của một ngân hàng có vấn đề là do những nguyên nhân sau: Các nguyên nhân từ bên trong: Thứ nhất: do quản lý thanh khoản chưa thật sự chặt chẽ dẫn đến thiếu khả năng chi trả, cụ thể: dự trữ thanh khoản thấp nên không thể đáp ứng được nhu cầu sử dụng vốn tức thời, ưa thích các loại chứng khoán có thanh khoản thấp, mất cân đối trong kỳ hạn giữa nguồn vốn và tài sản, hoặc không đủ khả năng chi trả do vốn chủ sở hữu thấp.
Thứ hai: do ngân hàng cho vay và đầu tư quá liều lĩnh. Trong cho vay, thiếu sự thẩm định chặt chẽ, tăng trưởng nóng dẫn đến nợ xấu, hoặc ngân hàng cho vay nguồn vốn quá nhiều vào một doanh nghiệp hoặc ngành kinh tế nào đó. Trong đầu tư, không đa dạng hóa mà chỉ tập trung nắm giữ một số loại chứng khoán có độ rủi ro cao. Thứ ba: các hình thức huy động vốn chưa được đa dạng hoá nên khó thu hút được nguồn vốn từ khách hàng, do đó làm sụt giảm vốn huy động dẫn đến tình trạng không đáp ứng kịp thời nhu cầu của khách hàng.
Thứ tư: do ngân hàng mất cân đối giữa việc huy động nguồn và sử dụng nguồn. Ngân hàng sử dụng quá nhiều khoản huy động và đi vay vốn với thời hạn ngắn, để cho vay và đầu tư trung dài hạn. Từ đó xảy ra tình trạng mất cân xưng giữa ngày đáo hạn của các khoản sử dụng vốn và ngày đáo hạn của nguồn vốn huy động, LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 mà cụ thể là là dòng tiền thu vào từ các khoản đầu tư nhỏ hơn dòng tiền chi trả các nhu cầu tất toán các khoản tiền gửi của khách hàng. Các nguyên nhân từ bên ngoài : Thứ nhất: những thay đổi trong việc điều hành chính sách kinh tế vĩ mô, chính sách tiền tệ của chính phủ.
Trong những năm vừa qua dòng vốn tiền gởi vào ngân hàng thương mại giảm do tác động của lạm phát và lòng tin. Trong những năm gần đây, nền kinh tế hồi phục sau khủng hoảng kéo theo hoạt động của các ngân hàng thương mại cũng tăng trưởng nóng làm phát sinh tư tưởng chủ quan, tăng trưởng tín dụng không kiểm soát, và buông lỏng chính sách quản lý rủi ro. Vì vậy ngân hàng nhà nước (NHNN) đã phải thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt một cách quyết liệt nhằm thu về một khối lượng tiền mặt đồng Việt Nam khá lớn từ lưu thông. Không có sự chuẩn bị tốt, một số ngân hàng thương mại đã không thể ứng phó kịp thời, bị mất thanh khoản do cơ cấu đầu tư quá mạo hiểm Thứ hai: do sự biến động của lãi suất thị trường làm ảnh hưởng đến nguồn tiền huy động tại ngân hàng.
Cụ thể, khách hàng sẽ rút các khoản tiền gửi tại ngân hàng với lãi suất thấp khi lãi suất đầu tư tăng để chuyển sang đầu tư nơi khác có tỷ lệ sinh lời cao hơn, ngược lại đối với khách hàng vay sẽ tích cực tiếp cận với vốn vay ngân hàng vì có lãi suất thấp. Thứ ba: do khủng hoảng suy thoái kinh tế trong thời gian vừa qua, các doanh nghiệp bị ảnh hưởng nặng nề, dẫn đến thua lỗ, phá sản, mất khả năng hoàn vốn vay cho dân ngân hàng. Điều này ảnh hưởng đến khả năng đảm bảo nhu cầu thanh khoản cho ngân hàng. Thứ tư: do tình hình chính trị, an ninh xã hội trong nước không ổn định.
Các tin tức bất lợi liên quan đến ngân hàng, hoặc các tin đồn thất thiệt về uy tín của ngân hàng, tạo tâm lý lo sợ và tâm lý “bầy đàn”, khiến khách hàng rút tiền hàng loạt, điều này làm ngân hàng dễ rơi vào tình trạng mất khả năng chi trả.