Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NỢ XẤU VÀ CÔNG TÁC QUẢN TRỊ RỦI RO NỢ XẤU TRONG HOẠT ĐỘNG CẤP TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Cơ sở lý luận về nợ xấu và công tác quản trị rủi ro nợ xấu trong hoạt động cấp tín dụng của NHTM 1. Nợ xấu trong hoạt động cấp tín dụng của Ngân hàng thương mại 1. Khái niệm về nợ xấu (NPLs) Theo định nghĩa nợ xấu của các tổ chức tín dụng thế giới thì một khoản nợ được coi là nợ xấu khi quá hạn trả lãi và/hoặc gốc trên 90 ngày, hoặc các khoản lãi chưa trả từ 90 ngày trở lên đã được nhập gốc, tái cấp vốn hoặc chậm trả theo thoả thuận; hoặc các khoản phải thanh toán đã quá hạn dưới 90 ngày nhưng có lý do chắc chắn để nghi ngờ về khả năng khoản vay sẽ được thanh toán đầy đủ.
Còn đứng trên giác độ tại Việt Nam, dưới góc độ định nghĩa, phân loại và quản lý của Ngân hàng nhà nước thì theo quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005, nợ xấu là những khoản nợ được phân loại vào nhóm 3 (dưới chuẩn), nhóm 4 (nghi ngờ) và nhóm 5 (có khả năng mất vốn). Trong quyết định 493 nêu rõ, những khoản nợ bị quá hạn lãi hoặc quá hạn gốc trên 90 ngày đến trên 360 ngày (tức là từ nhóm 3 đến nhóm 5) được xem là nợ xấu và Ngân hàng thương mại căn cứ vào khả năng trả nợ của khách hàng để hạch toán khoản vay vào các nhóm nợ thích hợp, cụ thể như sau: Nhóm 1 (Nợ đủ tiêu chuẩn) Nhóm 2 (Nợ cần chú ý) Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) Nhìn chung, các khoản nợ xấu cho dù phân loại vào nhóm nào đi chăng nữa thì đây cũng là một dạng tổn thất tài chính đối với các Ngân hàng thương mại. Các Ngân hàng thương mại phải phải tốn khá nhiều thời gian và chi phí để xử lý các c 5 khoản nợ này, cá biệt nợ xấu có thể gây nguy hại đến hoạt động kinh doanh của các Ngân hàng. Nguyên nhân phát sinh các khoản nợ xấu trong Ngân hàng Về cơ bản các khoản nợ được xem là nợ xấu là những khoản cho vay đã quá hạn ít nhất 90 ngày, không thu hồi hay tái chuyển nhượng được.
Mặc dù các khoản cho vay có vấn đề và các tổn thất là kết quả của nhiều yếu tố nhưng nhìn chung chúng là kết quả của sự không sẵn lòng hoàn trả nợ vay của người vay, hay không có khả năng thanh toán một phần hoặc toàn bộ nợ vay như đã thỏa thuận. Một vài nguyên nhân dẫn đến việc phát sinh các khoản nợ xấu trong Ngân hàng có thể kể đến như: Thứ nhất việc cho vay của NHTM thường xuyên xuất hiện rủi ro và các NHTM chỉ quyết định cho vay sau khi đã phân tích cẩn thận các yếu tố có liên quan đến tính chân thật và khả năng của người vay trong việc hoàn trả nợ. Tuy nhiên sự phân tích tín dụng không đạt đến mức Ngân hàng có thể dự đoán hoàn toàn chính xác về một khoản vay có được hoàn trả như đã thỏa thuận hay không. Tính chân thật và khả năng chi trả của người vay có thể thay đổi sau khi khoản vay đã được thực hiện dẫn đến việc không hoàn trả đúng hạn khi đến hạn và trong một số trường hợp đã dẫn đến tổn thất.
Thứ hai Ngân hàng yếu kém trong việc phân tích tín dụng, quyết định cho vay vội vã mà không có thông tin chính xác hay thông tin nhận được là sai lệch không phản ánh đúng thực tế. Thứ ba môi trường kinh tế có ảnh hưởng lớn đến sức mạnh tài chính của người vay và thiệt hại hoặc thành công đối với người cho vay. Trong giai đoạn hưng thịnh, người vay hoạt động tốt do lợi tức cao nhưng trong giai đoạn khủng hoảng khả năng hoàn trả bị giảm sút, điều này có thể dẫn đến người vay mất khả năng thanh toán. Thứ tư sự không sẵn lòng chi trả khác xuất phát từ cơ hội làm ăn kinh tế của một số người đi vay.
Sự không sẵn lòng chi trả liên quan chặt chẽ với giai đoạn suy thoái kinh tế, các giai đoạn thất nghiệp và lợi tức suy giảm. Các dấu hiệu nhận biết nợ xấu a) Nhóm các dấu hiệu phát sinh từ phía khách hàng Dấu hiệu phát sinh từ phía khách hàng bao gồm hai nhóm chính thể hiện trong mối quan hệ giữa khác hàng với Ngân hàng và phương thức quản lý tình hình tài chính, hoạt động của khách hàng. Trước hết là những biểu hiện không bình thường trong mối quan hệ giữa khách hàng với Ngân hàng như: Khách hàng gây khó khăn cho Ngân hàng trong quá trình kiểm tra theo định kỳ hoặc đột xuất tình hình sử dụng vốn vay, tình hình tài chính, hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng mà không có sự giải thích rõ ràng, minh bạch. Doanh nghiệp cố trì hoãn gửi bảo cáo tài chính theo yêu cầu hoặc không có báo cáo về dự đoán hay lưu chuyển tiền tệ mà không có sự giải thích minh bạch thuyết phục.
Khách hàng có dấu hiệu không thực hiện đầy đủ các quy định, vi phạm pháp luật trong quá trình quan hệ tín dụng Đề nghị gia hạn, điều chỉnh kỳ hạn nợ nhiều lần không rõ lý do hoặc thiếu các căn cứ thuyết phục mang tính khách quan về việc gia hạn hay điều chỉnh kỳ hạn nợ. Có sự sút giảm bất thường số dư tài khoản tiền gửi mở tại Ngân hàng, xuất hiện những thay đổi bất thường ngoài dự kiến và không giải thích được trong tốc độ và tổng mức lưu chuyển tiền gửi thanh toán tại Ngân hàng. Xuất hiện nợ quá hạn do khách hàng không có khả năng hoàn trả hoặc khách hàng không muốn trả hoặc do việc thu hồi công nợ chậm hơn dự tính. Mức độ vay thường xuyên gia tăng, yêu cầu vay các khoản vượt quá nhu cầu dự kiến.
Tài sản đảm bảo không đủ điều kiện, giá trị tài sản bị giảm sút so với định giá khi cho vay, có dấu hiệu tài sản đã cho người khác bán, trao đổi hoặc đã biến mất hoặc không còn tồn tại. Khách hàng có dấu hiệu trông chờ các khoản thu nhập bất thường khác, không phải từ hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc từ hoạt động được đề xuất trong phương án vay vốn để đáp ứng các nghĩa vụ thanh toán hoặc họ có tìm kiếm c 7 sự tài trợ nguồn vốn lưu động từ nhiều nguồn khác đặc biệt là từ đối thủ cạnh tranh của Ngân hàng hay sử dụng các khoản tài trợ ngắn hạn cho các hoạt động đầu tư dài hạn. Chấp nhận sử dụng các nguồn vốn vay với giá cao với mọi điều kiện. Thứ hai là xuất hiện các dấu hiệu bất thường liên quan tới phương pháp quản lý tình hình tài chính và hoạt động kinh doanh của khách hàng.
Những dấu hiệu này tác động trực tiếp tới chất lượng khoản tín dụng nhưng với tốc độ chậm hơn, chúng không dễ nhận diện nếu thiếu sự quản lý chặt chẽ, sâu sát của cán bộ tín dụng bao gồm: Có chênh lệch lớn giữa doanh thu hay dòng tiền thực tế so với mức dự kiến khi khách hàng đề nghị cấp tín dụng. Những thay đổi bất lợi trong cơ cấu vốn, tỷ lệ thanh toán hay mức độ hoạt động của khách hàng. Xuất hiện ngày càng nhiều các chi phí bất hợp lý như sự gia tăng đột biến trong chi phí quảng cáo, tập trung quá nhiều chi phí để gây ấn tượng như thiết bị văn phòng hiện đại, phương tiện giao thông đắt tiền… Thay đổi thường xuyên tổ chức của ban điều hành, xuất hiện mâu thuẫn trong quản trị điều hành, tranh chấp trong quá trình quản lý. Khách hàng sẵn sàng từ bỏ hợp đồng có giá trị nhỏ và vừa nhưng có khả năng thu được tỷ suất lợi nhuận cao để tìm kiếm các hợp đồng lớn với các bạn hàng có tên tuổi dù lợi nhuận thu về có khả năng đạt thấp hơn.
Do áp lực nội bộ doanh nghiệp phải tung ra thị trường các sản phẩm dịch vụ quá sớm khi các sản phẩm chưa đạt được các điều kiện cần thiết hoặc đặt ra những hạn mức thời gian, doanh số không hợp lý. Thiên tai, địch họa, dịch bệnh bất ngờ xảy ra và có ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của khách hàng. b) Nhóm các dấu hiệu phát sinh từ phía Ngân hàng Có sự đánh giá và phân loại không chính xác về mức độ rủi ro của khách hàng. Cấp tín dụng dựa trên các cam kết không chắc chắn và thiếu tính đảm bảo của khách hàng về việc duy trì một khoản tiền lớn hoặc các lợi ích do khách hàng đem lại từ khoản tín dụng được cấp.
c 8 Tốc độ tăng trưởng tín dụng quá nhanh vượt quá khả năng và năng lực kiểm soát của Ngân hàng. Cho vay dựa trên các sự kiện bất thường có thể xảy ra chẳng hạn sáp nhập, thay đổi địa vị pháp lý… Soạn thảo các điều kiện ràng buộc trong hợp đồng tín dụng mập mờ, không rõ ràng, không rõ lịch hoàn trả đối với từng khoản vay, cán bộ tín dụng cố ý thỏa hiệp các nguyên tắc tín dụng với khách hàng mặc dù biết có rủi ro tiềm ẩn. Cấp tín dụng với khối lượng lớn cho khách hàng không thuộc phân đoạn ưu tiên. Có khuynh hướng cạnh tranh thái quá, giảm thấp lãi suất hoặc phí dịch vụ hay giữ chân khách hàng bằng các khoản tín dụng mới để họ không quan hệ với tổ chức tín dụng khác… 1.
Tác động của nợ xấu a) Tác động đến hoạt động của NHTM Nợ xấu xuất hiện tức là Ngân hàng không thu hồi đủ vốn bỏ ra cho vay trong khi chi phí dự phòng tăng lên làm giảm lợi nhuận, giảm tích lũy để đầu tư mới. Nợ xấu gia tăng còn làm cho Ngân hàng thu lỗ do bị thâm hụt vào nguồn vốn cho vay, đến một lúc nào đó Ngân hàng không thể trả cho người gửi tiền khi đến hạn, Ngân hàng sẽ lâm vào tình cảnh mất khả năng thanh toán. Trước tình hình này Ngân hàng buộc phải đi vay TCTD khác hoặc chịu sự can thiệp của NHNN hoặc có thể phá sản. Tỷ lệ nợ xấu trong tổng dư nợ tăng cao sẽ làm uy tín của Ngân hàng giảm sút dẫn đến việc thu hút nguồn vốn để phục vụ kế hoạch mở rộng kinh doanh gặp nhiều khó khăn.
Ngoài ra tỷ lệ nợ xấu cao còn hạn chế khả năng cho vay của Ngân hàng, ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của Ngân hàng.