CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÁC NGHIỆP TRONG HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG BÁN LẺ 1.1 Tổng quan về hoạt động ngân hàng bán lẻ 1.1 Khái niệm về ngân hàng thương mại Ngân hàng là loại hình tổ chức tài chính, cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất-đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán-và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế[18, tr. Ngân hành thương mại là loại ngân hàng giao dịch trực tiếp với các công ty, xí nghiệp, tổ chức kinh tế và cá nhân, bằng cách nhận tiền gởi, tiền tiết kiệm rồi sử dụng số vốn đó để cho vay, chiết khấu, cung cấp các phương tiện thanh toán và cung ứng dịch vụ ngân hàng cho các đối tượng nói trên [22, tr. NHTM tuy có nhiều cách định nghĩa khác nhau nhưng nhìn chung NHTM có những đặc điểm cơ bản sau: NHTM kinh doanh và cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ như nhận tiền gửi, cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản. Mục tiêu hoạt động của ngân hàng là vì lợi nhuận.
Hoạt động kinh doanh của NHTM gắn liền với các hoạt động kinh doanh của các tổ chức, cá nhân có nhu cầu sử dụng dịch vụ ngân hàng. Với chức năng trung gian tài chính, trung gian thanh toán, trung gian trong thực hiện các chính sách tiền tệ quốc gia và là một doanh nghiệp đặc biệt, NHTM đóng vai trò quan trọng trong thúc đẩy tăng trưởng kinh tế xã hội, góp phần giải quyết vấn đề vốn cho các tổ chức kinh tế, cá nhân.2 Khái niệm về hoạt động ngân hàng bán lẻ Căn cứ vào đối tượng khách hàng mà ngân hàng cung cấp sản phẩm dịch vụ, có thể phân theo nhóm hoạt động ngân hàng bán buôn và hoạt động ngân hàng bán lẻ. Hoạt động ngân hàng bán buôn: là những hoạt động ngân hàng dành cho khách hàng là các công ty, xí nghiệp có quy mô lớn, các tập đoàn kinh tế, tổng công ty và định chế tài chính. Số lượng sản phẩm dịch vụ cung cấp cho khách hàng không nhiều giá trị của từng sản phẩm dịch vụ là rất lớn.
Trong giới hạn đề tài nghiên cứu, luận văn không nghiên cứu về hoạt động NHBB mà tập trung nghiên cứu về hoạt động NHBL. Hoạt động ngân hàng bán lẻ TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 2 Theo các chuyên gia kinh tế của Học viện Công nghệ Châu Á, hoạt động NHBL là hoạt động cung ứng sản phẩm - dịch vụ ngân hàng tới KHCN, DNVVN. Theo tổ chức Thương mại thế giới –WTO, thì hoạt động NHBL là loại hình hoạt động điển hình của ngân hàng nơi KHCN có thể đến các điểm giao dịch của ngân hàng để thực hiện các dịch vụ gửi tiền, thanh toán, kiểm tra tài khoản, dịch vụ thẻ… Ở nước ta đến nay vẫn chưa có văn bản pháp lý nào đưa ra khái niệm rõ ràng về hoạt động NHBL. “Ngân hàng bán lẻ thực ra là hoạt động bao trùm tất cả các mặt tác nghiệp của NHTM như tín dụng, các dịch vụ.chứ không chỉ là dịch vụ ngân hàng.
Có lẽ cách nhìn nhận về bán lẻ nên thoáng và đúng nghĩa của nó” (Lê Hoàng Nga - Ủy ban Chứng khoán Nhà nước). “Bán lẻ chính là vấn đề của phân phối. Cần hiểu đúng nghĩa của bán lẻ là hoạt động của phân phối, trong đó là triển khai các hoạt động tìm hiểu, xúc tiến, nghiên cứu, thử nghiệm, phát hiện và phát triển các kênh phân phối hiện đại - mà nổi bật là kinh doanh qua mạng. Dịch vụ bán lẻ bao gồm ba lĩnh vực chính: thị trường, các kênh phân phối, dịch vụ và đáp ứng dịch vụ.
Bán lẻ ngày càng phát triển sang lĩnh vực xuyên quốc gia” (Jean Paul Vontron - Ngân hàng Fortis). Qua các cách tiếp cận khác nhau trên, tác giả hiểu khái niệm hoạt động NHBL như sau: “Hoạt động NHBL là hoạt động ngân hàng cung cấp các sản phẩm huy động vốn, cấp tín dụng, dịch vụ thanh toán, ngân quỹ và các dịch vụ ngân hàng khác tới các cá nhân, các hộ gia đình và DNVVN nhằm mục đích tiêu dùng và sản xuất kinh doanh thông qua mạng lưới chi nhánh, qua các kênh phân phối hiện đại. Số lượng sản phẩm dịch vụ mà ngân hàng cung cấp cho khách hàng rất nhiều nhưng giá trị của từng sản phẩm dịch vụ thường không lớn“. Tuỳ thuộc chiến lược kinh doanh của mình các Ngân hàng có thể là NHBB, NHBL hoặc ngân hàng hỗn hợp vừa bán buôn vừa bán lẻ.
Ở Việt Nam hiện nay đa số các Ngân hàng đều là ngân hàng hỗn hợp nhưng có chiến lược phát triển NHBL riêng. Để đưa ra mô hình NHBL chuẩn vẫn là một bài toán khó và một số vấn đề đang được tiếp tục mổ xẻ, ví dụ: ngoài KHCN và hộ gia đình thì DNVVN có là đối tượng phục vụ của NHBL không? Tuỳ theo chiến lược phát triển riêng, một số NHTM xác định khách hàng bán lẻ bao gồm cả các DNVVN như SCB, Sacombank, Techcombank, ACB; một số NH tách đối tượng khách hàng DNVVN riêng khỏi khách hàng của hoạt động NHBL như BIDV, MB, MSB. Tại Mỹ, hoạt động NHBL gồm các SPDV cung cấp cho KHCN và doanh nghiệp nhỏ, trong đó doanh nghiệp nhỏ được phân loại tuỳ từng NH và dựa vào tiêu chí doanh thu từ 1-20 triệu USD/năm. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 3 NHBL tác giả đề cập trong đề tài này được hiểu là hoạt động bán lẻ của ngân hàng như khái niệm đã trình bày, không đề cập đến loại hình ngân hàng.3 Đặc điểm của hoạt động NHBL - Phục vụ chủ yếu cho các khách hàng là cá nhân và các DNVVN; số lượng giao dịch lớn nhưng giá trị mỗi giao dịch không cao; mức độ rủi ro thấp và đây là lĩnh vực ít chịu ảnh hưởng của chu kỳ kinh tế.
- Các sản phẩm dịch vụ NHBL cung ứng phải đa dạng để thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng, nhu cầu sản xuất kinh doanh của khách hàng. Chính sách, phương thức quản lý, cách thức tiếp thị, yêu cầu về nguồn nhân lực khác với NHBB, đặc biệt đòi hỏi phải xây dựng nhiều kênh phân phối và đa dạng để cung ứng được các sản phẩm dịch vụ cho khách hàng trên phạm vi rộng. - Phần lớn dựa vào công nghệ thông tin hiện đại cho nên có tác dụng tăng cường hoạt động quản trị tập trung, đẩy nhanh quá trình luân chuyển tiền tệ, tận dụng tiềm năng về vốn để phát triển kinh tế; đồng thời giúp cải thiện đời sống dân cư, hạn chế thanh toán bằng tiền mặt, góp phần tiết kiệm chi phí và thời gian cho cả ngân hàng và khách hàng. - Khi phát triển NHBL các vấn đề cần tập trung: Giá trị thương hiệu; Hiệu lực tài chính; Tính bền vững của nguồn thu; Tính rõ ràng trong chiến lược; Năng lực bán hàng; Năng lực quản lý rủi ro; Khả năng tạo sản phẩm; Thâm nhập thị trường; Đầu tư vào nguồn nhân lực.4 Vai trò của hoạt động ngân hàng bán lẻ 1.1 Đối với nền kinh tế và xã hội - Thúc đẩy hoạt động kinh tế, tăng quá trình chu chuyển tiền tệ trong nền kinh tế, khai thác và sử dụng các nguồn vốn trong nền kinh tế; góp phần thúc đẩy sản xuất kinh doanh, tiêu dùng… - Hỗ trợ hoạt động các doanh nghiệp đặc biệt là DNVVN thông qua việc cấp tín dụng: mở rộng sản xuất cả về chiều rộng lẫn chiều sâu, chủ yếu là đầu tư về công nghệ, đẩy nhanh quá trình sản xuất, luân chuyển hàng hoá, hỗ trợ tư vấn doanh nghiệp nâng cao sức cạnh tranh, nâng cao năng lực tài chính, quản trị điều hành.
- Tạo nên hệ thống ngân hàng vững mạnh và hiệu quả, cạnh tranh lành mạnh trong nền kinh tế, giữa các ngân hang; hỗ trợ hiệu quả cho phát triển và tăng trưởng kinh tế. - Danh mục sản phẩm dịch vụ NHBL ngày đa dạng, hiện đại, đa tiện ích và an toàn: Góp phần nâng cao trình độ nhận thức của người dân, mang lại nhiều cơ hội tiếp TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 4 cận, lựa chọn và sử dụng những sản phẩm dịch vụ hiện đại, đáp ứng nhu cầu đa dạng trong xã hội hiện đại, sự phát triển của nền kinh tế và hội nhập với kinh tế thế giới… 1.2 Đối với sự phát triển của hệ thống ngân hàng - Gia tăng cạnh tranh: Phát triển hoạt động NHBL góp phần tạo ra môi trường cạnh tranh không ngừng không những giữa các NH trong nước mà còn giữa các chi nhánh nước ngoài với nhau, giữa các NH nội địa và ngân hàng nước ngoài, tạo ra một hệ thống NH lành mạnh, hiện đại. - Gia tăng nhanh chóng các danh mục SPDV: các ngân hàng không ngừng nghiên cứu và cung cấp những SPDV tốt nhất, tiện ích nhất cho người tiêu dùng, thúc đẩy sự phát triển của hệ thống ngân hàng. Nâng cao năng lực cạnh tranh, năng lực tài chính, quản trị điều hành, quản lý rủi ro trong ngân hàng.
- Cách mạng trong công nghệ ngân hàng: Các ngân hàng đã và đang tiếp tục chuyển sang sử dụng hệ thống hoạt động tự động và điện tử thay thế cho hệ thống thủ công (giao dịch tại quầy, sử dụng lao động thủ công). Hơn nữa phát triển NHBL đem lại nhiều cơ hội hợp tác liên kết giữa các TCTD với nhau, giữa TCTD với các tổ chức khác trong việc khai thác cung cấp nhiều SPDV tiện ích cho khách hàng các bên tham gia. - Đem lại cho ngân hàng khoản thu nhập lớn về phí dịch vụ, tận dụng được nguồn vốn huy động chi phí thấp, tăng cường cơ hội bán chéo sản phẩm dịch vụ… - Củng cố và mở rộng hoạt động về mặt địa lý: ngân hàng phải mở rộng cơ sở khách hàng bằng cách vươn tới các thị trường mới và gia tăng số lượng khách hàng, nâng dần tỷ lệ sử dụng SPDV trên một khách hàng; đồng thời chú trọng xây dựng hình ảnh thương hiệu của ngân hàng.3 Phát triển hoạt động NHBL là xu hướng tất yếu của các NHTM ở các quốc gia đang phát triển Hoạt động NHBL ngày càng đóng vai trò quan trọng trong hoạt động của các NHTM. Tại các nước phát triển, NHBL từ lâu đã được nhiều người dân ưa chuộng vì tính hữu dụng, thân thiện, hiện đại và tiện ích.
Bên cạnh đó, giúp giảm thiểu rủi ro, nâng cao năng lực cạnh tranh, mang lại nguồn thu nhập ổn định và bền vững cho các ngân hàng (chiếm 35%-60%/Tổng doanh thu). Ngày nay, các NHTM trên thế giới đã đưa dịch vụ NHBL vươn ra toàn cầu chứ không chỉ bó h p trong phạm vi quốc gia.