Chương 1 : Cơ sở lý luận về rủi ro lãi suất và quản trị rủi ro lãi suất tại ngân hàng thương mại Chương 2 : Thực trạng quản trị rủi ro lãi suất tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam giai đoạn 2011-2013 Chương 3 : Giải pháp và kiến nghị nhằm khắc phục những hạn chế trong công tác quản trị rủi ro lãi suất tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam Kết luận LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 CHƢƠNG 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ RỦI RO LÃI SUẤT VÀ QUẢN TRỊ RỦI RO LÃI SUẤT TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.1 Rủi ro lãi suất 1.1 Khái niệm Theo Timothi W.Koch (Banking Management 1995 – University of South Crolina) : “Rủi ro lãi suất là sự thay đổi tiềm tàng về thu nhập lãi ròng và giá trị thị trường của vốn ngân hàng xuất phát từ sự thay đổi của mức lãi suất”.Fitch (Dictionary of Banking Terms 1997 – Barron’s Edutional Series Inc) thì “rủi ro lãi suất là rủi ro khi thay đổi lãi suất thị trường sẽ dẫn đến tài sản sinh lời giảm giá trị”. Tuy có nhiều khái niệm khác nhau nhưng các khái niệm cùng có nội hàm như nhau là : Rủi ro lãi suất là loại rủi ro xuất hiện khi có sự thay đổi của lãi suất thị trường hoặc của những yếu tố có liên quan đến lãi suất dẫn đến nguy cơ biến động thu nhập và giá trị ròng của ngân hàng.2 Các hình thức của rủi ro lãi suất 1.1 Rủi ro về giá Phát sinh khi lãi suất thị trường tăng, giá trị thị trường của các trái phiếu và các khoản cho vay với lãi suất cố định ngân hàng đang nắm giữ sẽ bị giảm giá. Bởi lãi suất định kỳ (coupon) của trái phiếu và các khoản cho vay đã được ấn định từ trước, lãi suất thị trường tăng làm cho lãi suất của các trái phiếu và các khoản cho vay mà ngân hàng nắm giữ trước đó trở nên thấp hơn lãi suất thị trường hiện tại, khiến chúng giảm giá. Trái phiếu và các khoản cho vay có thời gian đáo hạn càng dài thì mức giảm giá càng lớn, nếu ngân hàng muốn bán đi các tài sản này thì phải chấp nhận tổn thất vì giá trị của chúng bị giảm đi so với trước.
Khi lãi suất thị trường giảm, giá trái phiếu và các khoản cho vay với lãi suất cố định ma ngân hàng đang nắm giữ sẽ tăng. Bởi lãi suất định kỳ (coupon) của trái phiếu và các khoản cho vay đã ấn định từ trước, lãi suất thị trường giảm làm cho giá LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 trái phiếu cũ và các khoản cho vay với mức lãi suất cao hơn trở nên hấp dẫn. Trái phiếu và các khoản cho vay có thời gian đáo hạn càng dài thì mức độ tăng giá càng cao. Ngược lại, khi lãi suất thị trường tăng, giá trái phiếu và các khoản cho vay với lãi suất cố định mà ngân hàng đang nắm giữ sẽ giảm.2 Rủi ro tái đầu tƣ Xuất hiện khi lãi suất thị trường giảm khiến ngân hàng phải chấp nhận đầu tư các nguồn vốn của mình vào những tài sản mới với mức sinh lời thấp hơn.3 Nguyên nhân dẫn đến rủi ro lãi suất 1.1 Khi xuất hiện sự không cân xứng về kỳ hạn giữa Tài sản và Nợ Trường hợp 1 : Kỳ hạn của Tài sản lớn hơn kỳ hạn của Nợ : Ngân hàng huy động vốn ngắn hạn để cho vay, đầu tư dài hạn.
Rủi ro sẽ trở thành hiện thực nếu lãi suất huy động trong những năm tiếp theo tăng lên trong khi lãi suất cho vay và đầu tư dài hạn không đổi. Trường hợp 2 : Kỳ hạn của Tài sản nhỏ hơn kỳ hạn của Nợ : Ngân hàng huy động vốn có kỳ hạn dài để cho vay, đầu tư với kỳ hạn ngắn. Rủi ro sẽ trở thành hiện thực nếu lãi suất huy động trong những năm tiếp theo không đổi trong khi lãi suất cho vay và đầu tư giảm xuống.2 Do ngân hàng áp dụng các loại lãi suất khác nhau trong quá trình huy động vốn và cho vay Trường hợp 1 : Ngân hàng huy động vốn với lãi suất cố định để cho vay, đầu tư với lãi suất biến đổi. Khi lãi suất giảm, rủi ro lãi suất sẽ xuất hiện vì chi phí lãi không đổi trong khi thu nhập lãi giảm nên lợi nhuận ngân hàng giảm.
Trường hợp 2 : Ngân hàng huy động vốn với lãi suất biến đổi để cho vay, đầu tư với lãi suất cố định. Khi lãi suất tăng, rủi ro lãi suất sẽ xuất hiện vì chi phí lãi tăng theo lãi suất thị trường, trong khi thu nhập lãi không đổi nên lợi nhuận ngân hàng giảm. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.3 Do tỷ lệ lạm phát dự kiến không phù hợp với tỷ lệ lạm phát thực tế nên vốn của ngân hàng không đƣợc bảo toàn sau khi cho vay. Lãi suất cho vay danh nghĩa = Lãi suất thực + Tỷ lệ lạm phát dự kiến Ví dụ : Khi dự kiến lãi suất cho vay 8% = 3% (lãi suất thực) + 5% (dự kiến tỷ lệ lạm phát).
Nhưng nếu sau khi cho vay tỷ lệ lạm phát thực tế là 8% thì lãi suất thực ngân hàng được hưởng sẽ là 0%.4 Sự thay đổi của lãi suất thị trƣờng ngoài dự kiến của ngân hàng Quan hệ cung - cầu về tín dụng trên thị trường thường xuyên thay đổi, do đó lãi suất thị trường cũng thay đổi theo. Ngân hàng rất khó kiểm soát mức độ và xu hướng biến động của nó. Nếu ngân hàng duy trì khe hở lãi suất dương thì sự tăng/giảm về chênh lệch lãi suất tỷ lệ thuận với sự tăng/giảm lãi suất trên thị trường liên ngân hàng. Ngược lại, nếu ngân hàng duy trì khe hở lãi suất âm thì sẽ tỷ lệ nghịch.
Ngân hàng chỉ có thể phản ứng điều chỉnh hoạt động của mình theo sự biến động lãi suất để đạt được mục tiêu mong muốn kinh doanh hiệu quả nhất. Ngân hàng luôn nghiên cứu và dự báo lãi suất. Tuy nhiên trong nhiều trường hợp ngân hàng không thể dự báo chính xác những thay đổi của lãi suất. Và chính nhứng thay đổi ngoài dự kiến của lãi suất đó gây nên rủi ro lãi suất cho ngân hàng.4 Ảnh hƣởng của rủi ro lãi suất Sự thay đổi của lãi suất có những tác động tới cả thu nhập của ngân hàng cũng như giá trị kinh tế của tài sản sản và nguồn vốn.1 Tác động tới thu nhập của ngân hàng Hậu quả của việc thay đổi lãi suất đã ảnh hưởng tới lợi nhuận thuần và các báo cáo thu nhập của ngân hàng.
Đó là phương pháp truyền thống mà các ngân hàng sử dụng khi đánh giá về RRLS. Sự biến động về thu nhập là điểm mấu chốt đối với việc phân tích RRLS bởi vì thu nhập hoặc có những mất mát tài chính sẽ ảnh hưởng đến sự ổn định tài chính của các tổ chức tài chính và giảm niềm tin vào thị trường. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Yếu tố thu nhập được quan tâm nhiều nhất là thu nhập ròng về lãi suất, tức là chênh lệch giữa tổng thu nhập từ lãi cho vay và chi phí phải trả cho lãi suất huy động. Khi lãi suất thay đổi thì thu nhập cũng như chi phí đều thay đổi gây ra thay đổi về thu nhập lãi suất.
Thu nhập từ lãi suất = Tổng thu nhập từ lãi - Tổng chi phí về lãi suất Tuy nhiên, khi các ngân hàng mở rộng ra các hoạt động thu phí và các thu nhập ngoài lãi khác (các hoạt động phi tín dụng), thì các hoạt động này ngày càng trở nên nhạy cảm với lãi suất. Ví dụ như một số ngân hàng cung cấp dịch vụ cấp hạn mức tín dụng cho khách hàng. Khi lãi suất thay đổi khách hàng có thể không dùng hết hạn mức này, trong trường hợp này khách hàng phải trả một khoản phí gọi là phí cam kết, phí này lại phụ thuộc vào hạn mức tín dụng mà khách hàng đã dùng, mà hạn mức này lại phụ thuộc vào lãi suất thị trường. Ví dụ khác như khi ngân hàng cung cấp dịch vụ quản lý các khoản vay đối với các món vay có tài sản đảm bảo để thu phí dựa trên giá trị của tài sản mà ngân hàng quản lý.
Khi lãi suất tăng, ngân hàng sẽ thu được ít phí hơn do khách hàng có thể ngừng nhận vay và lấy lại tài sản đảm bảo. Hơn nữa, các thu nhập ngoài lãi truyền thống như các giao dịch có tính phí cũng ngày càng trở nên nhạy cảm với lãi suất hơn. Điều này khiến các nhà quản lý giám sát ngân hàng phải có cái nhìn rộng hơn về tác động tiềm ẩn của lãi suất đối với thu nhập của ngân hàng.2 Tác động đến giá trị kinh tế của các tài sản Sự thay đổi của lãi suất thị trường cũng có tác động tới giá trị kinh tế của TSC, TSN và trạng thái ngoại bảng của ngân hàng. Do vậy độ nhạy cảm của giá trị kinh tế của các tài sản đối với thay đổi của lãi suất là một điều rất quan trọng cần phải cân nhắc kỹ lưỡng bởi các nhà điều hành ngân hàng.
Giá trị kinh tế của một tài sản là giá trị hiện tại của các dòng tiền trong tương lai của ngân hàng, được chiết khấu theo lãi suất hiện tại. Giá trị kinh tế của ngân hàng được xác định bởi giá trị hiện tại của các dòng tiền mong đợi của ngân hàng, được xác định bằng các dòng tiền dự tính của các TSC trừ đi dòng tiền dự tính của TSN cộng với các dòng tiền của các trạng thái ngoại bảng. Với định nghĩa này khi LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 có sự biến động của lãi suất sẽ ảnh hưởng tới giá trị kinh tế của ngân hàng. Đây là một cách nhìn thấu đáo hơn về những tác động dài hạn của sự thay đổi lãi suất so với việc chỉ xem xét tới sự ảnh hưởng tới thu nhập của ngân hàng.
Sự đánh giá này là toàn diện hơn bởi những thay đổi của thu nhập ngân hàng trong ngắn hạn có thể không cung cấp những chỉ số chính xác về tác động của sự thay đổi lãi suất tới toàn bộ trạng thái của ngân hàng.2 Đo lƣờng rủi ro lãi suất Theo các lý thuyết cập nhật nhất hiện nay, đo lường RRLS có thể áp dụng theo 3 phương pháp, theo hai tiêu chí cơ bản là : (1) Hậu quả của rủi ro và (2) xác suất xảy ra rủi ro. Với hai tiêu chí trên việc đo lường RRLS có thể được mô tả ở bảng sau : Bảng 1.1: Các phƣơng pháp đo lƣờng rủi ro lãi suất Phƣơng pháp đo lƣờng Hậu quả Xác suất 1.