Chương 1.LÝ LUẬN TỔNG QUAN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO LÃI SUẤT TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.Lý luận tổng quan về rủi ro lãi suất tại Ngân Hàng Thương Mại 1.Khái niệm và phân loại rủi ro lãi suất 1.Khái niệm rủi ro lãi suất Theo quan điểm truyền thống: “Rủi ro là những thiệt hại, mất mát, nguy hiểm, hoặc các yếu tố khác liên quan đến nguy hiểm, khó khăn, hoặc điều không chắc chắn có thể xảy ra cho con người”. Theo quan điểm trung hòa cho rằng: “Rủi ro là sự bất trắc không thể trung hòa được”. Có nhiều cách hiểu rủi ro khác nhau, có nhiều định nghĩa về rủi ro của các nhà kinh tế và các nhà kinh doanh. Cách tiếp cận phổ biến nhất khi xem rủi ro như là khả năng xuất hiện các khoản thiệt hại tài chính.
Thuật ngữ rủi ro được sử dụng với ý nghĩa như là “sự không chắc chắn” để mô tả sự biến động tỷ suất sinh lời của một tài sản nào đó. Lãi suất là giá cả của quan hệ vay mượn hoặc cho thuê những dịch vụ về vốn dưới hình thức tiền tệ hoặc các dạng tài sản khác nhau. Cũng như nhiều giá cả hàng hoá khác, lãi suất của các khoản cho vay, tiền gửi và chứng khoán thường xuyên biến động, có thể làm gia tăng lợi nhuận cho NH hoặc ngược lại gây tổn thất cho NH. Sự biến động của lãi suất có thể gây ra rủi ro cho NH.
Vậy rủi ro lãi suất của Ngân hàng là gì? Timothy W.Kock (1995) đã định nghĩa: “Rủi ro lãi suất là sự thay đổi thu nhập tiềm tàng về thu nhập lãi ròng và giá trị thị trường của vốn NH suất phát từ sự thay đổi của mức lãi suất”.Fitch cho rằng: “Rủi ro lãi suất là rủi ro khi thay đổi lãi suất thị trường sẽ dẫn đến tài sản sinh lời giảm giá trị”. Rủi ro lãi suất là khả năng NH phải đối mặt với sự suy giảm lợi nhuận hoặc những tổn thất về tài sản do sự biến động của lãi suất. Sự không cân xứng về kỳ hạn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2 giữa tài sản có và tài sản nợ làm cho NH phải chịu rủi ro về lãi suất. Rủi ro lãi suất là rủi ro tài chính của NH do biến động lãi suất trên thị trường.
Trong hoạt động NH, chấp nhận loại rủi ro này là điều bình thường và rủi ro này cũng ảnh hưởng đến khả năng sinh lời và giá trị cổ đông. Tuy nhiên, rủi ro lãi suất vượt quá mức sẽ đe dọa đến lợi nhuận và vốn của NH. Theo đó, vì mục tiêu hoạt động an toàn và bền vững của NH, cần phải thiết lập một quy trình quản trị rủi ro hiệu quả trong đó rủi ro lãi suất luôn nằm trong tầm kiểm soát của NH.Phân loại rủi ro lãi suất Rủi ro cơ bản (Basic risk): Khi lãi suất thay đổi, các chênh lệch này sẽ dẫn đến thay đổi bất ngờ trong dòng tiền và lợi nhuận của các TSC-TSN và các công cụ ngoại bảng có cùng thời hạn hoặc có cùng đặc điểm tái định giá. Rủi ro định giá lại (Repricing risk): Hình thức cơ bản và phổ biến nhất của rủi ro lãi suất xuất phát từ sự chênh lệch thời hạn (trường hợp lãi suất cố định) và việc tái định giá (trường hợp lãi suất thả nổi) đối với các TSC -TSN và các giao dịch ngoại bảng.
Trong hoạt động NH, chênh lệch tái định giá là vấn đề rất cơ bản và cũng làm cho thu nhập cũng như trị giá kinh tế ẩn của NH biến động thất thường khi lãi suất thay đổi. Rủi ro đường cong lợi tức (Yield curve risk): Chênh lệch tái định giá sẽ làm thay đổi độ dốc và hình dạng đường cong lợi nhuận của NH. Rủi ro đường cong lợi nhuận xuất hiện khi có sự thay đổi bất ngờ trên đường cong lợi nhuận làm ảnh hưởng lớn tới lợi nhuận hoặc các giá trị kinh tế ẩn của NH. Rủi ro quyền chọn (Option risk): Rủi ro này xuất hiện đối với các tài sản nợ, tài sản có gắn với quyền chọn.Nguyên nhân gây ra rủi ro lãi suất 1.Rủi ro cơ bản Là rủi ro bắt nguồn từ mối tương quan không hoàn hảo trong việc điều chỉnh mức lãi suất đi vay và cho vay đối với các sản phẩm tài chính có cùng đặc điểm khi quy định lại mức lãi suất.
Khi lãi suất thay đổi, các chênh lệch này sẽ dẫn đến thay đổi không mong muốn lên dòng tiền và lợi nhuận của các TSN -TSC và các hạng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 mục ngoại bảng có cùng thời hạn hoặc có cùng đặc điểm quy định lại mức lãi suất. Ví dụ trường hợp Ngân hàng cho vay một khách hàng dựa trên lãi suất tham chiếu là lãi suất LIBOR (cộng hoặc trừ một mức lãi suất cố định) và nguồn tài trợ là từ tiền gửi với lãi suất tham chiếu là lãi suất cơ bản của Ngân hàng Nhà nước (cộng hoặc trừ một mức lãi suất cố định). Khi lãi suất cơ bản của Ngân hàng Nhà nước tăng nhanh hơn lãi suất LIBOR thì lợi nhuận và giá trị tài sản ròng của Ngân hàng đều giảm xuống.Rủi ro định giá lại Rủi ro định giá lại là rủi ro do chênh lệch thời điểm ấn định mức lãi suất mới. Rủi ro định giá lại thường xuất hiện khi có sự khác biệt về kỳ hạn hoặc thời gian điều chỉnh lãi suất của tài sản nợ và tài sản có.
Lãi suất biến động sẽ ảnh hưởng đến lợi nhuận và giá trị tài sản ròng của Ngân hàng. Ví dụ trường hợp Ngân hàng cho vay một khoản vay dài hạn (lãi suất cố định), hoặc mua trái phiếu dài hạn (lãi suất cố định) và nguồn tài trợ là từ các khoản tiền gửi hoặc phát hành trái phiếu với lãi suất thả nổi với kỳ hạn ngắn hơn. Khi lãi suất biến động tăng thì lợi nhuận và giá trị tài sản ròng của Ngân hàng đều giảm xuống.Rủi ro đường cong lợi tức Rủi ro đường cong lợi tức là rủi ro do thay đổi mối quan hệ lãi suất ở các kỳ hạn khác nhau. Rủi ro đường cong lợi tức xuất hiện khi có sự thay đổi về hình dạng hoặc độ dốc của đường cong lợi tức.
Sự thay đổi này sẽ ảnh hưởng đến lợi nhuận và giá trị của tài sản ròng của NH. Ví dụ trường hợp Ngân hàng mua trái phiếu (lãi suất thả nổi) có kỳ hạn 5 năm từ nguồn bán trái phiếu (lãi suất thả nổi) có kỳ hạn 10 năm. Nếu đường cong lợi tức tăng nhanh và trở nên dốc hơn thì lợi nhuận và giá trị tài sản ròng của Ngân hàng đều giảm xuống.Rủi ro quyền chọn Rủi ro này xuất hiện đối với các tài sản nợ, tài sản có gắn với quyền chọn. Các quyền chọn thường gặp và rủi ro do nó gây ra bao gồm: ►Quyền chọn của người phát hành: Quyền mua lại (Call provision): Người phát hành có quyền mua lại trái phiếu trước kỳ đáo hạn với một mức giá nhất định.
Quyền này thường được thực LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 hiện khi lãi suất giảm. Người nắm giữ trái phiếu sẽ gặp rủi ro tái đầu tư với một mức lãi suất thấp hơn. Quyền thanh toán trước hạn (Prepayment option): Thường áp dụng đối với các trái phiếu thanh toán gốc làm nhiều kỳ do nó được chứng khoán hóa từ các khoản vay thế chấp. Quyền này cho người phát hành quyền thanh toán trước hạn tương ứng với các khoản vay thế chấp.
Quyền này được thực hiện do nhiều nguyên nhân gắn với khoản vay thế chấp. Lãi suất giảm là một nguyên nhân và Người nắm giữ trái phiếu sẽ gặp rủi ro tái đầu tư với một mức lãi suất thấp hơn. Quy định trần lãi suất (Caps): Quy định mức lãi suất tối đa đối với các trái phiếu lãi suất thả nổi. Khi lãi suất tăng Người nắm giữ trái phiếu gặp rủi ro vì bị giới hạn mức lãi suất.
Các quyền chọn khác. ►Quyền chọn của người nắm giữ: Quyền chuyển đổi (Conversion option): Có quyền chuyển đổi trái phiếu thành cổ phiếu theo một tỷ lệ nhất định. Khi thực hiện quyền chuyển đổi cả hai bên nắm giữ và phát hành đều có khả năng gặp rủi ro vì sự chênh lệch giữa lãi suất trái phiếu và tỷ lệ cổ tức. Quyền bán (Put provision): Người nắm giữ trái phiếu có quyền bán lại trái phiếu cho người phát hành trước hạn với một mức giá nhất định.
Quyền này thường được thực hiện khi lãi suất tăng cao hoặc hệ số tín nhiệm của người phát hành xuống thấp. Người phát hành sẽ gặp rủi ro vì phải huy động vốn với mức lãi suất cao hơn. Quy định sàn lãi suất (Floors): Quy định mức lãi suất tối thiểu đối với các trái phiếu lãi suất thả nổi. Khi lãi suất giảm Người phát hành trái phiếu gặp rủi ro vì mức lãi suất tối thiểu bị giới hạn.
Các quyền chọn khác.Các chỉ tiêu phản ánh rủi ro lãi suất 1.Khe hở kỳ hạn (Maturiry Gap) Khe hở kỳ hạn xuất hiện khi có sự chênh lệch giữa kỳ đến hạn trung bình của tài sản có và kỳ đến hạn trung bình của tài sản nợ. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 Khe hở kỳ hạn = Kỳ hạn trung bình tài sản có – Kỳ hạn trung bình tài sản nợ Nếu đường cong lãi suất là đường dốc lên trên tức là kỳ hạn dài có lãi suất cao hơn kỳ hạn ngắn thì: - Khe hở kỳ hạn > 0 làm tăng lợi nhuận của Ngân hàng (Lãi suất của tài sản có với kỳ hạn dài lớn hơn lãi suất của tài sản nợ với kỳ hạn ngắn). - Khe hở kỳ hạn < 0 làm giảm lợi nhuận của Ngân hàng (Lãi suất của tài sản có với kỳ hạn ngắn nhỏ hơn lãi suất của tài sản nợ với kỳ hạn dài). Nếu đường cong lãi suất là đường dốc xuống dưới tức là kỳ hạn dài có lãi suất thấp hơn kỳ hạn ngắn thì: - Khe hở kỳ hạn > 0 làm giảm lợi nhuận của Ngân hàng (Lãi suất của tài sản có với kỳ hạn dài nhỏ hơn lãi suất của tài sản nợ với kỳ hạn ngắn).
- Khe hở kỳ hạn < 0 làm tăng lợi nhuận của Ngân hàng (Lãi suất của tài sản có với kỳ hạn ngắn lớn hơn lãi suất của tài sản nợ với kỳ hạn dài).Khe hở nhạy cảm lãi suất (Gap) Khe hở nhạy cảm lãi suất được gọi tắt là Gap là chênh lệch giữa giá trị tài sản có nhạy cảm lãi suất và giá trị tài sản nợ nhạy cảm lãi suất. Khe hở nhạy cảm lãi suất sẽ được áp dụng tùy vào kế hoạch quản lý của NH (theo từng kỳ có thể là ngày, tuần, tháng, năm).