CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG CHO VAY DOANH NGHIỆP TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP VÀ CHO VAY DOANH NGHIỆP TRONG CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Khách hàng doanh nghiệp trong ngân hàng thương mại a. Khái niệm Doanh nghiệp Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng kí kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh.
[6] Hiện nay ở Việt nam có nhiều loại hình doanh nghiệp khác nhau, mỗi loại hình doanh nghiệp có đặc trưng riêng có khả năng đem lại cho chủ sở hữu những lợi thế và những hạn chế khác nhau. Chính vì vậy việc lựa chọn được một hình thức doanh nghiệp phù hợp với tính chất kinh doanh, quy mô ngành nghề kinh doanh và khả năng của người bỏ vốn thành lập là vô cùng quan trọng, có tác động tới sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp về sau. Doanh nghiệp tại Việt Nam chủ yếu là loại hình doanh nghiệp nhỏ và vừa. Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, hiện nay cả nước có hơn 600.000 doanh nghiệp, trong đó DNNVV chiếm 97% tổng số doanh nghiệp.
Khó khăn lớn nhất đối với các DN nước ta là vốn. Theo thống kê, có tới 80% số doanh nghiệp có vốn điều lệ dưới 7 tỷ đồng. Khoảng 90% số doanh nghiệp phải đi vay vốn ngân hàng. Việc tự huy động vốn để đầu tư phát triển sản xuất là rất khó khăn do hầu hết các doanh nghiệp này không đủ tư cách, điều kiện để vay ngân hàng, hay tiếp cận các tổ chức tài chính quốc tế, Luan van 6 càng khó tham gia vào thị trường vốn (chứng khoán, phát hành cổ phiếu.
Khách hàng doanh nghiệp [8] Khách hàng DN của NH bao gồm tất cả các DN thuộc các loại hình DN hoạt động theo luật DN trong tất cả các ngành nghề, lĩnh vực. Danh mục sản phẩm mà NH cung cấp cho nhóm KH này rất đa dạng, phù hợp với nhiều loại hình công ty và mục đích sử dụng vốn khác nhau. Sản phẩm, dịch vụ truyền thống mà NH cung cấp cho đối tượng này là dịch vụ tài khoản: bao gồm tài khoản thanh toán, tài khoản tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi ký quỹ; dịch vụ tín dụng, bảo lãnh; dịch vụ thanh toán quốc tế, và các dịch vụ khác. Phân loại doanh nghiêp Căn cứ vào Luật Doanh nghiệp 2005 thì hình thức pháp lý của các loại hình DN ở Việt Nam bao gồm: Doanh nghiệp nhà nước.
Doanh nghiệp dân doanh. Bao gồm: Công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh, công ty cổ phần, doanh nghiệp tư nhân. Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Vai trò của tín dụng đối với doanh nghiệp Tín dụng đáp ứng nhu cầu vốn để duy trì quá trình tái sản xuất đồng thời góp phần đầu tư phát triển kinh tế: Vấn đề thiếu vốn thường xuyên xảy ra ở các doanh nghiệp, do đó việc cung cấp vốn tín dụng đã góp phần điều hòa vốn trong toàn bộ nền kinh tế, tạo điều kiện cho quá trình sản xuất được liên tục.
Trong nền sản xuất hàng hóa, tín dụng là một trong những nguồn hình thành vốn lưu động hay vốn cố định của doanh nghiệp. Vì vậy, tín dụng đã góp phần động viên vật tư hàng hóa đi vào sản xuất, thúc đẩy ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật để đẩy nhanh quá trình tái sản xuất xã hội. Luan van 7 Tín dụng thúc đẩy quá trình tập trung vốn và tập trung sản xuất: Hoạt động ngân hàng là hoạt động huy động vốn tạm thời chưa sử dụng thường nằm phân tán ở khắp nơi như trong các DN, các cơ quan nhà nước, trong dân cư để thực hiện cho các doanh nghiệp vay. Đầu tư tập trung là quá trình tất yếu của nền sản xuất hàng hóa, nên để tài trợ cho các ngành kinh tế tất yếu phải sử dụng tín dụng NH.
Tín dụng thúc đẩy quá trình luân chuyển hàng hóa và luân chuyển tiền tệ: Bất cứ một nền kinh tế nào cũng cần xây dựng một cơ cấu kinh tế hợp lý và chuyển dịch dần theo hướng đã hoạch định. Tín dụng đã trực tiếp tham gia vào các quá trình luân chuyển hàng hóa và luân chuyển tiền tệ tạo điều kiện phát triển nền kinh tế, đặc biệt những ngành kinh tế mũi nhọn theo định hướng của Nhà nước. Tín dụng góp phần thúc đẩy chế độ hạch toán kinh tế: Khi có sự tài trợ của các NH, mỗi DN phải thực hiện chế độ hạch toán kinh tế và các định chế tài chính khác. Khi sử dụng vốn vay NH, các DN phải tôn trọng hợp đồng tín dụng, tức là phải đảm bảo hoàn trả lãi và nợ vay đúng hạn cũng như chấp hành các điều khoản khác đã ghi trong hợp đồng tín dụng.
Do vậy, khi vay vốn đòi hỏi DN phải quan tâm đến việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, giảm chi phí sản xuất kinh doanh, tạo điều kiện nâng cao lợi nhuận của DN. Tín dụng tạo điều kiện để phát triển các quan hệ kinh tế với nước ngoài: Ngày nay, phát triển kinh tế của một nước luôn gắn liền với thị trường thế giới, tín dụng ngân hàng trở thành một trong những phương tiện nối liền kinh tế các nước với nhau. Đối với các nước đang phát triển nói chung, nước ta nói riêng, tín dụng đóng vai trò quan trọng trong việc mở rộng xuất khẩu hàng hóa, đồng thời nhờ nguồn tín dụng bên ngoài để đáp ứng vốn cho công cuộc công nghiệp hóa và hiện đại hóa nền kinh tế. Luan van 8 Tín dụng ngày nay còn là một công cụ để giúp đỡ các doanh nghiệp trong nước có đủ năng lực để xâm nhập thị trường thế giới như tài trợ cho việc mua bán chịu hàng hóa, mở rộng sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm cho phù hợp với yêu cầu về quy mô và chất lượng của thị trường thế giới.
Tín dụng ngày nay là một công cụ để giúp đỡ các doanh nghiệp trong nước có đủ năng lực để tham gia vào thị trường thế giới như tài trợ việc mua bán chịu hàng hóa, mở rộng sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm cho phù hợp với yêu cầu về quy mô và chất lượng của thị trường thế giới. Các hình thức cho vay doanh nghiệp trong ngân hàng thương mại a. Căn cứ theo mục đích cho vay - Bổ sung vốn lưu động Là loại cho vay để hình thành vốn lưu động của các tổ chức kinh tế như cho vay nhằm dự trữ hàng hóa, mua nguyên vật liệu cho sản xuất. - Đầu tư tài sản cố định Là loại cho vay nhằm hình thành vốn cố định, loại cho vay này được thực hiện dưới hình thức cho vay trung và dài hạn.
Cho vay đầu tư tài sản cố định thường được cấp phát phục vụ cho đầu tư mua sắm tài sản cố định, cải tiến, và đổi mới kỹ thuật, mở rộng sản xuất, xây dựng các xí nghiệp và công trình mới. - Cho vay đầu tư dự án Là hình thức tín dụng phục vụ cho hoạt động đầu tư, sản xuất kinh doanh nhằm mang lại lợi nhuận. - Cho vay sản xuất và cho vay hàng hóa: Là loại cho vay cho các DN tiến hành sản xuất và lưu thông hàng hóa b. Căn cứ vào thời gian cho vay [10] - Cho vay ngắn hạn: Là loại vay có thời hạn cho vay đến 12 tháng.
- Cho vay trung hạn: Là loại vay có thời hạn từ 12 tháng đến 60 tháng. Luan van 9 - Cho vay dài hạn: Là loại vay có thời hạn trên 60 tháng. Căn cứ vào loại tài sản đảm bảo - Cho vay có tài sản đảm bảo: Là loại cho vay mà NH đòi hỏi DN phải có tài sản cầm cố, thế chấp hoặc bảo lãnh của bên thứ ba. - Cho vay không có tài sản đảm bảo: Là loại cho vay mà NH khi cho vay chủ yếu dựa vào uy tín của KH.
RỦI RO TÍN DỤNG TRONG CHO VAY DOANH NGHIỆP 1. Khái niệm về rủi ro tín dụng [11] Rủi ro tín dụng là rủi ro đặc thù, phát sinh trong quá trình hoạt động của ngân hàng, đó là hoạt động cung cấp dịch vụ tài chính. Rủi ro tín dụng phát sinh trong trường hợp ngân hàng không thu được đầy đủ cả gốc và lãi của khoản vay, hoặc việc thanh toán nợ gốc và lãi không đúng kỳ hạn. Như vậy, rủi ro tín dụng trong hoạt động NH là khả năng xảy ra tổn thất của NH do KH không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết.
Rủi ro tín dụng xảy ra dẫn tới việc ngân hàng không thu đủ vốn gốc và lãi đúng hạn, gây tác động xấu đến hoạt động của ngân hàng. Rủi ro tín dụng xảy ra sẽ làm giảm lợi nhuận của ngân hàng, gây thiệt hại về tài sản, làm giảm niềm tin của dân chúng, đưa ngân hàng đến bờ vực phá sản. Rủi ro tín dụng ngày nay không chỉ xảy ra ở các lĩnh vực truyền thống như cho vay hay đầu tư chứng khoán mà còn có thể xảy ra trong các lĩnh vực hoạt động ngoại bảng khác. Tác động của rủi ro tín dụng Đối với ngân hàng: Khi RRTD xảy ra, điều này sẽ làm cho NH mất cân đối trong việc thu-chi, vòng quay vốn tín dụng giảm làm cho NH kinh doanh không hiệu quả, chi phí tăng lên, lợi nhuận giảm và uy tín đối với KH bị giảm sút.
Nếu mức độ trầm trọng, NH sẽ mất khả năng chi trả và có nguy Luan van 10 cơ bị phá sản. Đối với khách hàng: Nếu rủi ro xảy ra từ phía NH, KH có thể mất đi kênh cung ứng vốn, dẫn đến sản xuất bị đình trệ. Nếu rủi ro xảy ra từ chính DN, các khoản nợ khó đòi của họ có thể sẽ ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa họ với NH. Đối với nền kinh tế: Hoạt động NH là hoạt động mang tính xã hội cao, khi một NH bị đỗ vỡ do tác động của RRTD, sẽ dễ tạo phản ứng dây chuyền đối với các tổ chức tín dụng khác.
Từ đó, dẫn đến cuộc khủng hoảng tài chính nghiêm trọng, kiềm hãm sự phát triển hay dẫn đến suy thoái kinh tế. Khái niệm rủi ro tín dụng trong cho vay doanh nghiệp Rủi ro trong cho vay doanh nghiệp là khả năng xảy ra tổn thất khi NH không thu được đầy đủ cả gốc và lãi của các khoản vay, hoặc là việc thanh toán nợ gốc và lãi vay không đúng hạn do DN không có khả năng trả nợ hoặc cố ý không trả nợ.