lời mở đầu, kết luận, luận văn được chia thành ba chương: Chƣơng 1: Quản trị nợ xấu trong hoạt động tín dụng của Ngân hàng thương mại. Chƣơng 2: Thực trạng quản lý nợ xấu tại Ngân hàng Phát Triển Nhà ĐBSCL – Chi nhánh Chợ Lớn. Chƣơng 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý nợ xấu trong Ngân hàng Phát triển Nhà ĐBSCL – Chi nhánh Chợ Lớn. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 1 CHƢƠNG 1 QUẢN TRỊ NỢ XẤU TRONG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.
HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG VÀ NỢ XẤU TẠI NGÂN HÀNG 1. Hoạt động tín dụng và rủi ro tín dụng Khái niệm tín dụng: Tín dụng xuất phát từ chữ Latin là Creditium có nghĩa là tin tưởng, tín nhiệm. Theo ngôn ngữ dân gian Việt Nam, “tín dụng” có nghĩa là sự vay mượn, đó là sự chuyển nhượng tạm thời quyền sử dụng một lượng giá trị dưới hình thức hiện vật hay tiền tệ, từ người sở hữu sang người sử dụng sau đó hoàn trả với một lượng giá trị lớn hơn. Hoạt động tín dụng: Theo khoản 14, điều 4 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 thì hoạt động tín dụng bao gồm việc cấp tín dụng được định nghĩa là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bảo lãnh Ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác.
Đặc thù hoạt động tín dụng của Ngân hàng Bản chất của tín dụng Ngân hàng Tín dụng là một phạm trù kinh tế, là hình thái đặc thù trong quá trình vận động của tiền tệ. Nhờ tín dụng mà trong quá trình vận hành nền kinh tế dòng tài sản thể hiện dưới hình thái tiền tệ sẽ dịch chuyển từ chỗ tạm thời nhàn rỗi sang chỗ tạm thời thiếu hụt để cân bằng cung cầu vốn của thị trường. Về bản chất, tín dụng là một công cụ của NHTM trong việc thực hiện chức năng trung gian tài chính nhằm vận chuyển vốn từ nơi thừa vốn đến nơi thiếu vốn nhằm tạo lập trạng thái cân bằng trong quá trình vận hành vốn của nền kinh tế, LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2 Về bản chất kinh tế của thị trường vốn, hoạt động tín dụng chứa ẩn nhiều yếu tố rủi ro đối với không những Ngân hàng mà còn đối với chủ nợ của Ngân hàng, nên việc quản lý tín dụng, quản lý rủi ro là yêu cầu quan trọng trong quản trị Ngân hàng. Rủi ro tín dụng Ngân hàng Trong nền kinh tế thị trường rủi ro đồng hành với quá trình phát triển.
Có nhiều định nghĩa và khái niệm khác nhau về rủi ro, nhưng nhìn chung, rủi ro là những yếu tố tiềm ẩn, mà khi phát sinh sẽ làm ảnh hưởng tiêu cực đến kết quả của hoạt động kinh tế hoặc là khả năng làm thất thoát, thiệt hại về vật chất cũng như tinh thần. Đối với tín dụng Ngân hàng thì rủi ro được khái niệm một cách cụ thể hơn. Đó là khả năng không thu hồi được vốn cho vay và lãi phát sinh, là những tình huống phát sinh trong quá trình sử dụng vốn vay làm cho người vay không thực hiện thanh toán nợ gốc và lãi đúng hạn. Có thể khẳng định rằng rủi ro trong hoạt động tín dụng không phải là bản chất vốn có của tín dụng mà là những hoạt động liên quan dẫn đến một kết quả không như mong muốn trong hoạt động tín dụng.
Rủi ro tín dụng và nợ xấu Rủi ro tín dụng gắn liền với hoạt động quan trọng nhất, có qui mô lớn nhất của NHTM – đó chính là hoạt động tín dụng. Khi thực hiện một hoạt động tài trợ cụ thể, Ngân hàng cố gắng phân tích, đánh giá người vay sao cho độ an toàn cao nhất. Và nhìn chung Ngân hàng chỉ quyết định cho vay khi thấy rằng rủi ro tín dụng sẽ không xảy ra. Tuy nhiên, không một nhà kinh doanh Ngân hàng tài ba nào có thể dự đoán chính xác các vấn đề sẽ xảy ra.
Do vậy, trên quan điểm quản lý toàn bộ Ngân hàng, rủi ro tín dụng là khó có thể tránh khỏi, là khách quan. Nhiều quan điểm nhất trí cho rằng, rủi ro tín dụng là bạn đường trong kinh doanh, có thể đề phòng, hạn chế, chứ khó có thể loại trừ. Do vậy, rủi ro dự kiến luôn được xác định trước trong chiến lược hoạt động chung của Ngân hàng. Điều này cũng có nghĩa, rủi ro tín dụng luôn là khách quan, là nguyên nhân chính gây ra những khoản nợ xấu trong Ngân hàng và các khoản nợ xấu này tồn tại một cách khách quan, song hành với tiến trình hoạt động của Ngân LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Đó cũng chính là lý do mà ta chỉ có thể hạn chế nợ xấu mà không thể loại bỏ hoàn toàn nợ xấu. Bản chất của nợ xấu: Nợ xấu nói chung được xem như một dấu hiệu của vấn đề rủi ro tiềm ẩn. Tuy nhiên, thực tế một khoản nợ xấu thì cho biết rất ít vấn đề, để xác định bản chất vấn đề phải tìm hiểu được nguyên nhân của khoản nợ đó. Nếu khoản nợ xấu là một biểu hiện của việc khách hàng không muốn hoặc không có khả năng hoàn trả thì có thể khoản vay đã có vấn đề nghiêm trọng và có nguy cơ không cứu vãn được.
Nếu khoản nợ chỉ hình thành do việc tiêu thụ hàng hóa hoặc thu hồi các khoản phải thu chậm hơn dự tính hoặc do việc chậm trễ không tính trước được trong việc chuyển từ khâu sản xuất đến khâu tiêu thụ trên thị trường, thì vấn đề chưa đến mức nghiêm trọng. Bản chất của nợ xấu gắn liền với bản chất của mối quan hệ tín dụng – đây là mối quan hệ kinh tế giữa người cho vay và người đi vay, giữa họ có quan hệ với nhau thông qua sự vận động của giá trị vốn tín dụng được biểu hiện dưới hình thức tiền tệ và hàng hóa từ người cho vay chuyển sang người đi vay và sau một thời gian nhất định quay về với người cho vay với giá trị lớn hơn lượng giá trị ban đầu. Do đó, tín dụng được tạo nên từ 3 yếu tố chính là: lòng tin, thời hạn của quan hệ tín dụng và sự hứa hẹn hoàn trả. Như vậy, có thể thấy bản chất nợ xấu là kết quả của mối quan hệ tín dụng không hoàn hảo, trước hết vì nó vi phạm đặc trưng cơ bản của tín dụng là tính thời hạn, sau nữa nó vi phạm đến đặc trưng thứ hai là tính hoàn trả đầy đủ, gây nên sự đổ vỡ lòng tin của người cung cấp tín dụng đối với khách hàng nhận tín dụng.
Quan điểm về nợ xấu: Hiểu một cách đơn giản thì trong quản trị rủi ro tín dụng người ta chia khoản nợ làm 3 loại để nhận dạng: nợ tốt, nợ xấu và nợ cần chú ý. Việc phân chia này căn cứ trên yếu tố định tính hoặc định lượng hay là cả 2 để nhận dạng được nhóm nợ. Tuy nhiên tại từng quốc gia khác nhau lại áp dụng các cách nhận dạng khác nhau tùy theo LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 quan điểm của từng nơi. Trong phạm vi bài viết này, tác giả chỉ đề cập nghiên cứu chuyên sâu đến quan điểm về nhóm nợ xấu.
Theo Ngân hàng Trung ƣơng Liên minh châu Âu Nợ xấu trong các NHTM bao gồm: Nợ không thể thu hồi được: Những khoản nợ đã hết hiệu lực hoặc những khoản nợ không có căn cứ đòi bồi thường từ nợ Người mắc nợ trốn hoặc bị mất tích, không còn tài sản để thanh toán nợ Những khoản nợ mà Ngân hàng không thể liên lạc được với người mắc nợ hoặc không thể tìm được người mắc nợ. Những khoản nợ mà khách nợ chấm dứt hoạt động kinh doanh, thanh lý tài sản hoặc kinh doanh bị thua lỗ và tài sản còn lại không đủ để trả nợ. Nợ có thể thu không thanh toán đầy đủ cho ngân hàng. Đây là những khoản nợ không có tài sản thế chấp hoặc tài sản thế chấp không đủ trả nợ.
Người mắc nợ không liên lạc với Ngân hàng để trả lãi hoặc gốc có thời hạn thanh toán, hoặc hoàn cảnh chỉ ra rằng khoản nợ sẽ không thể thu hồi đầy đủ như: Những khoản nợ mà người mắc nợ đồng ý thanh toán trong quá khứ, nhưng phần còn lại không thể được đền bù, hoặc những khoản nợ trong đó tài sản được chuyển để thanh toán nhưng giá trị còn lại không đủ trang trải toàn bộ khoản nợ. Những khoản nợ mà người mắc nợ khó có thể trả nợ và yêu cầu gia hạn nợ nhưng không đền bù được trong thời gian thỏa thuận. Những khoản nợ mà tài sản thế chấp không đủ để trả nợ hoặc tài sản thế chấp ở Ngân hàng không được chấp nhận về mặt pháp lý dẫn đến người mắc nợ không thể trả nợ Ngân hàng đầy đủ. Những khoản nợ mà Tòa án tuyên bố người mắc nợ phá sản nhưng phần bồi hoàn ít hơn dư nợ.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 Theo định nghĩa nợ xấu của Phòng thống kê – Liên hiệp quốc Một khoản nợ xấu được coi là nợ xấu khi quá hạn trả lãi và/ hoặc gốc trên 90 ngày; hoặc các khoản lãi chưa trả lãi từ 90 ngày trở lên đã được nhập gốc, tái cấp vốn hoặc trả chậm theo thỏa thuận; hoặc các khoản thanh toán đã quá hạn 90 ngày nhưng có lý do chắc chắn để nghi ngờ về khả năng khoản vay sẽ được thanh toán đầy đủ. Về cơ bản, nợ xấu được xác định dựa trên 2 yếu tố: (i) quá hạn trên 90 ngày và (ii) khả năng trả nợ nghi ngờ. Theo định nghĩa của Việt Nam Tại Việt Nam khái niệm về nợ xấu cũng đã được hình thành trong Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005; Quyết định số 18/2007 QĐ – NHNN ngày 25/4/2007 quy định về phân loại tài sản có , mức trích, phương pháp trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động Ngân hàng của các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài thì Nợ xấu được định nghĩa như sau: Nợ xấu là những khoản nợ được phân loại vào nhóm 3 (nợ dưới tiêu chuẩn), nhóm 4 (nợ nghi ngờ), nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn). Nợ xấu theo định nghĩa của Việt Nam cũng được xác định dựa theo 2 yếu tố: (i) đã quá hạn trên 90 ngày và (ii) khả năng trả nợ đáng lo ngại.