CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ NGUỒN VỐN VÀ HOẠT ĐỘNG QUẢN TRỊ NGUỒN VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 NGUỒN VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Khái niệm về nguồn vốn của ngân hàng thương mại Ngân hàng thương mại là một tổ chức trung gian tài chính với các chức năng cơ bản là: trung gian tín dụng, trung gian thanh toán và chức năng tạo tiền. Để thực hiện được các chức năng này và đi vào hoạt động một cách có hiệu quả và có lợi nhuận thì đòi hỏi ngân hàng thương mại phải có một lượng vốn hoạt động nhất định. Nguồn vốn có vai trò quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả hoạt động và sự an toàn của ngân hàng. Có nhiều cách để định nghĩa về nguồn vốn kinh tế.
Theo David Begg và cộng sự (2005) định nghĩa: “vốn của ngân hàng thương mại là những giá trị tiền tệ do bản thân ngân hàng thương mại tạo lập hoặc huy động được dùng để cho vay, đầu tư hoặc thực hiện các dịch vụ kinh doanh khác’’. Còn theo Basel II, vốn được định nghĩa là nguồn vốn cần thiết để bù đắp tất cả tổn thất có thể xảy ra. Vai trò cơ bản của nguồn vốn là đảm bảo hoạt động kinh doanh cho ngân hàng, hạn chế những rủi ro không mong muốn và củng cố niềm tin của khách hàng (Kristian, 2010). Do đó, hoạt động quản trị nguồn vốn để đảm bảo vốn cho hoạt động kinh doanh tại ngân hàng là vấn đề đã và đang được các nhà quản trị ngân hàng cũng như ngành ngân hàng quan tâm.
Nguồn vốn của NHTM rất đa dạng và phong phú, được hình thành từ nhiều nguồn và tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau. Mỗi loại nguồn vốn có những đặc trưng, đặc điểm, tính chất khác biệt. Chính vì thế, việc phân tích cơ cấu nguồn vốn của NHTM rất quan trọng đối với các nhà quản trị ngân hàng nhằm tìm ra cách thức tăng trưởng vốn hợp lý, tối đa hóa lợi nhuận và hạn chế rủi ro phát sinh.2 Cơ cấu nguồn vốn Dựa theo bảng cân đối kế toán của ngân hàng, nguồn vốn bao gồm 2 loại: vốn tự có và vốn nợ.1 Vốn tự có Khái niệm Qua quá trình nghiên cứu cho thấy, khái niệm vốn tự có và vốn chủ sở hữu thường đi kèm với nhau, đôi khi được đồng nhất là một. Theo Nguyễn Đăng Đờn và các tác giả khác (2012), vốn tự có, còn được gọi là vốn chủ sở hữu là số vốn ban đầu và được gia tăng không ngừng cùng với quá trình phát triển của ngân hàng thương mại.
Theo Rose (2012): “ Vốn chủ sở hữu là nguồn tiền được đóng góp bởi những người chủ ngân hàng, bao gồm chủ yếu là cổ phiếu, các khoản dự trữ và lợi nhuận không chia’’ Tuy nhiên, trên góc độ quản lý của nhà nước, khái niệm vốn tự có rộng hơn khái niệm vốn chủ sở hữu ở chỗ vốn tự có bao gồm cả vốn chủ sở hữu và các loại vốn khác có thể được xem là vốn tự có như là các quỹ dự trữ khác, trái phiếu chuyển đổi, trái phiếu dài hạn. Theo quy chế Basel II, vốn tự có của NHTM gồm 3 loại • Vốn cấp 1 (hay vốn cốt lõi) là vốn chất lượng cao, gồm vốn trên sổ sách của cổ phiếu thường, cổ phiếu ưu đãi tích luỹ không thường xuyên và các quỹ từ những thu nhập tích luỹ sau thuế. • Vốn cấp 2 (hay vốn bổ sung) là vốn có chất lượng thấp bao gồm các khoản vốn liên quan đến những điều kiện biến đổi như dự trữ tổn thất cho vay nói chung, nợ phụ thuộc dài hạn và các cổ phần ưu đãi tích luỹ hoặc tái khả dụng. • Vốn cấp 3 (được dự trù nhằm mở rộng định nghĩa vốn) gồm các khoản nợ phụ thuộc ngắn hạn được dùng để bù đắp các rủi ro thị trường.
Ở Việt Nam, theo quy định của luật các tổ chức tín dụng 2010, vốn tự có gồm giá trị 10 thực của vốn điều lệ của tổ chức tín dụng hoặc vốn được cấp của chi nhánh ngân hàng nước ngoài và các quỹ dự trữ, một số vốn nợ khác theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Cơ sở để xem xét này thường dựa vào đánh giá mức độ an toàn của nguồn vốn tự có với hoạt động ngân hàng. Trong luận văn này, tác giả sử dụng khái niệm vốn tự có theo góc độ quản lý. Tóm lại, khái niệm về vốn tự có khá rộng, tuỳ từng góc độ mà người ta có thể đưa ra các định nghĩa khác nhau, tuy nhiên, trong tất cả các định nghĩa đều thống nhất rằng đây là nguồn vốn ổn định, an toàn và không thể thiếu trong một doanh nghiệp.
Đặc điểm + Vốn tự có chiểm tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn của ngân hàng, thường từ 5% đến 10%. + Vốn tự có có tính ổn định cao và luôn được bổ sung trong quá trình tồn tại và phát triển của NHTM. + Vốn tự có quyết định quy mô hoạt động của ngân hàng và là nhân tố để xác định các tỷ lệ an toàn trong hoạt động kinh doanh của NHTM. Thành phần vốn tự có Ở Việt Nam, theo Thông tư số 41/2016/TT-NHNN ban hành ngày 30/12/2016 của Thống đốc NHNN quy định tỷ lệ an toàn vốn đối với ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài thì vốn tự có của ngân hàng bao gồm vốn cấp 1, vốn cấp 2 và các khoản giảm trừ khi tính vốn tự có, trong đó: • Vốn cấp 1 (vốn tự có cơ bản): Là phần vốn tự có hình thành ban đầu và được bổ sung trong quá trình hoạt động của ngân hàng, đây là nguồn vốn tương đối ổn định.
Vốn cấp 1 bao gồm: Vốn điều lệ; Quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ; Quỹ đầu tư phát triển nghiệp vụ; Quỹ dự phòng tài chính; Vốn đầu tư xây dựng cơ bản, 11 mua sắm tài sản cố định; Lợi nhuận chưa phân phối; Thặng dư vốn cổ phần. Các khoản phải trừ khỏi Vốn cấp 1 bao gồm: Lợi thế thương mại; Lỗ lũy kế; Cổ phiếu quỹ. • Vốn cấp 2 (vốn tự có bổ sung): Là nguồn vốn tăng thêm khi ngân hàng đã đi vào hoạt động và phụ thuộc vào nguồn vốn tự có cơ bản về quy mô và có tính ổn định thấp. Vốn cấp 2 bao gồm: Các quỹ khác được trích từ lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp theo quy định của pháp luật (không bao gồm quỹ khen thưởng, phúc lợi, quỹ thưởng ban điều hành); Phần chênh lệch tăng do đánh giá lại tài sản cố định theo quy định của pháp luật; Phần chênh lệch tăng do đánh giá lại các khoản góp vốn đầu tư dài hạn theo quy định của pháp luật; Dự phòng chung theo quy định của NHNN về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích dự phòng rủi ro và sử dụng dự phòng rủi ro đối với tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài; Công cụ vốn chủ sở hữu có tính chất nợ do ngân hàng phát hành; Nợ thứ cấp do ngân hàng phát hành, ký kết đáp ứng đầy đủ các điều kiện kèm theo.2 Vốn nợ Khái niệm Vốn nợ là phần còn lại của tài sản sau khi đã loại trừ vốn của ngân hàng (Nguyễn Đăng Đờn và các tác giả khác, 2012).
Vốn nợ của ngân hàng là nghĩa vụ tiền tệ của ngân hàng đối với người gửi tiền và các chủ nợ của ngân hàng tính đến một thời điểm nhất định. Nó được hình thành từ hoạt động huy động tiền gửi và vay vốn của ngân hàng trên các thị trường tài chính ở thời kỳ trước đó (Ngô Hướng, Phan Đình Thế, 2002). Nội dung Vốn nợ bao gồm tiền gửi, phát hành chứng từ có giá, vốn đi vay và các vốn nợ khác. Tiền gửi 12 • Khái niệm Bùi Diệu Anh và các tác giả khác (2013) đưa ra định nghĩa “Tiền gửi là các khoản tiền của các tổ chức, của dân cư gởi vào ngân hàng với những mục tiêu an toàn, hưởng lãi hoặc hưởng các tiện ích của dịch vụ thanh toán qua ngân hàng’’ Theo luật các tổ chức tín dụng năm 2010, sửa đổi năm 2017 quy định: “Nhận tiền gửi là hoạt động nhận tiền của tổ chức, cá nhân dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm, phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu và các hình thức nhận tiền gửi khác theo nguyên tắc có hoàn trả đầy đủ tiền gốc, lãi cho người gửi tiền theo thỏa thuận’’ • Đặc điểm Nguồn tiền gửi được xem là nguồn vốn chủ yếu của các ngân hàng, nhất là NHTM, có thể giao động từ 60 – 90% nguồn vốn của ngân hàng.
Do là nguồn quan trọng nhất để ngân hàng sử dụng vào các hoạt động thu lợi nhuận, nên đối với ngân hàng, tính ổn định của nguồn tiền gửi có ý nghĩa hết sức quan trọng (Bùi Diệu Anh và các tác giả khác, 2013). • Phân loại Theo Perter S.Rose (2001), tiền gửi được chia làm hai loại là tiền gửi giao dịch và tiền gửi phi giao dịch. Tiền gửi giao dịch Tiền gửi giao dịch là một trong những dịch vụ nhận tiền gửi lâu đời nhất mà ngân hàng cung cấp để thực hiện thanh toán hộ cho khách hàng. Tiền gửi giao dịch đòi hỏi ngân hàng phải thanh toán ngay lập tức các lệnh rút tiền cho một cá nhân hay cho bên thứ ba, được chỉ rõ là người thụ hưởng.
Tiền gửi giao dịch bao gồm tiền gửi giao dịch không hưởng lãi và tiền gửi giao dịch hưởng lãi. Tiền gửi giao dịch không hưởng lãi ra đời khi đạo luật Glass-Steagall được thông qua 13 năm 1933, các ngân hàng Mỹ không được phép chi trả lãi đối với các loại tài khoản phát séc thông thường. Quốc hội Mỹ lúc đó lo ngại rằng chi trả lãi cho tiền gửi giao dịch sẽ gây nguy hiểm cho sự an toàn của ngân hàng. Tiền gửi giao dịch là một trong những nguồn vốn biến động nhiều nhất và ngân hàng khó có thể dự báo về quy mô tiền gửi giao dịch có thể huy động.
Đồng thời kỳ hạn tiềm năng của tiền gửi giao dịch là ngắn nhất bởi vì nó có thể được rút ra mà không cần báo trước. Tiền gửi giao dịch hưởng lãi ra đời ở Anh trong thập kỷ 70 của thế kỷ 20, sự kết hợp giữa tiền gửi giao dịch không hưởng lãi và tiền gửi tiết kiệm đã xuất hiện dưới hình thức tài khoản NOW – negotiable order of withdrawal – tài khoản lệnh rút tiền có thể thương lượng.