CHƯƠNG 1 QUẢN LÝ TÍN DỤNG TẬP TRƯNG TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. TỎNG QUAN VÈ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI. Khái niệm hoạt động tín dụng “Tín dụng tiếp cận theo chức năng hoạt động của ngân hàng là một giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hóa) giữa bên cấp tín dụng (ngân hàng) và bên được cấp tín dụng (cá nhân, doanh nghiệp và các chủ thể khác), trong đó bên cấp tín dụng chuyến giao tài sản (hữu hình hoặc vô hình) cho bên được cấp tín dụng sử dụng trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận, bên được cấp tín dụng có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên cấp tín dụng khi đến hạn thanh toán”. Trong những năm 1960 trở về trước, hoạt động tín dụng của ngân hàng chỉ có cho vay bằng tiền.
Xuất phát từ tính đặc thù đó mà nhiều lúc thuật ngữ tín dụng và cho vay được coi là đồng nghĩa với nhau. Từ những năm 1970 trở lại đây, dịch vụ cho thuê vận hành và cho thuê tài chính đã được các ngân hàng hoặc các định chế tài chính khác cung cấp cho khách hàng. Đây là sản phẩm kinh doanh của ngân hàng, một hình thức tín dụng bàng tài sản thực (TS. Hồ Diệu, Tín dụng ngân hàng, 2001, tr.
Nguyên tắc CO’ bản của hoạt động tín dụng - Bên được cấp tín dụng phải trả toàn bộ gốc và lãi của khoản cấp tín dụng cho bên cấp tín dụng khi đến hạn thanh toán. Lãi của khoản cấp tín dụng chính là chi phí được sử dụng vốn mà bên được cấp tín dụng phải thanh toán khi sử dụng vốn tín dụng của ngân hàng. - Bên được cấp tín dụng phải cam kết sử dụng vốn đúng mục đích với bên được cấp tín dụng. Phân loại tín dụng Có rất nhiều căn cứ để phân loại tín dụng, tuy nhiên trong hoạt động ngân hàng, tín dụng thường được phân loại theo các tiêu chí sau: 6 1.
Theo mục đích sử dụng vốn Cho vay phục vụ nhu cầu đời sống và cho vay phục vụ hoạt động kinh doanh, hoạt động khác, trừ những nhu cầu vốn không được cho vay. Theo thời hạn cho vay Cho vay ngắn hạn là các khoản vay có thời hạn cho vay tối đa 01 (một) năm. Cho vay trung hạn là các khoản vay có thời hạn cho vay trên 01 (một) năm và tối đa 05 (năm) năm. Cho vay dài hạn là các khoản vay có thời hạn cho vay trên 05 (năm) năm 1.
Theo đối tượng khách hàng Cá nhân Việt Nam, cá nhân có quốc tịch nước ngoài, pháp nhân thành lập và hoạt động tại Việt Nam, pháp nhân thành lập ở nước ngoài và hoạt động họp pháp tại Việt Nam 1. Theo tài sản bảo đảm Tín dụng có the chia thành cho vay không tài sản bảo đảm hoặc có tài sản bảo đảm. Tài sản bảo đảm chỉ là hình thức làm tăng thêm trách nhiệm của người vay trong việc hoàn trả vốn và lãi đối với ngân hàng mà không phải tiêu thức quyết định đến việc khách hàng có được vay vốn hay không. Với những khách hàng tốt, có khả năng tài chính lành mạnh, có lịch sử giao dịch tín dụng tốt thì ngân hàng có thể cho vay vốn không tài sản bảo đảm 1.
Theo phương thức cho vay a. Cho vay từng lần: Mỗi lần cho vay, tổ chức tín dụng và khách hàng thực hiện thủ tục cho vay và ký kết thỏa thuận cho vay. Cho vay họp vốn: Là việc có từ hai tổ chức tín dụng trở lên cùng thực hiện cho vay đối với khách hàng để thực hiện một phương án, dự án vay vốn. Cho vay lưu vụ: Là việc tổ chức tín dụng thực hiện cho vay đối với khách hàng để nuôi trồng, chăm sóc các cây trồng, vật nuôi có tính chất mùa vụ theo chu kỳ sản xuất liền kề trong năm hoặc các cây lưu gốc, cây công nghiệp có thu hoạch hàng năm.
Theo đó, tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận dư nợ gốc của chu kỳ trước tiếp tục được sử dụng cho chu kỳ sản xuất tiếp theo nhưng không vượt quá thời gian của 02 chu kỳ sản xuất liên tiếp. Cho vay theo hạn mức: Tổ chức tín dụng xác định và thỏa thuận với khách hàng một mức dư nợ cho vay tối đa được duy trì trong một khoảng thời gian nhất định. Trong hạn mức cho vay, tổ chức tín dụng thực hiện cho vay từng lần. Một năm ít nhất một lần, tổ chức tín dụng xem xét xác định lại mức dư nợ cho vay tối đa và thời gian duy trì mức dư nợ này.
Cho vay theo hạn mức cho vay dự phòng: Tổ chức tín dụng cam kết đảm bảo sẵn sàng cho khách hàng vay vốn trong phạm vi mức cho vay dự phòng đã thỏa thuận. Tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận thời hạn hiệu lực của hạn mức cho vay dự phòng nhưng không vượt quá 01 (một) năm. Cho vay theo hạn mức thấu chi trên tài khoản thanh toán: Tổ chức tín dụng chấp thuận cho khách hàng chi vượt số tiền có trên tài khoản thanh toán của khách hàng một mức thấu chi tối đa để thực hiện dịch vụ thanh toán trên tài khoản thanh toán. Mức thấu chi tối đa được duy trì trong một khoảng thời gian tối đa 01 (một) năm.
Cho vay quay vòng: Tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận áp dụng cho vay đối với nhu cầu vốn có chu kỳ hoạt động kinh doanh không quá 01 (một) tháng, khách hàng được sử dụng dư nợ gốc của chu kỳ hoạt động kinh doanh trước cho chu kỳ kinh doanh tiếp theo nhưng thời hạn cho vay không vượt quá 03 (ba) tháng. Cho vay tuần hoàn (rollover): Tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận áp dụng cho vay ngắn hạn đối với khách hàng với điều kiện: - Đến thời hạn trả nợ, khách hàng có quyền trả nợ hoặc kéo dài thời hạn trả nợ thêm một khoảng thời gian nhất định đối với một phần hoặc toàn bộ số dư nợ gốc của khoản vay; - Tổng thời hạn vay vốn không vượt quá 12 tháng kể từ ngày giải ngân ban đầu và không vượt quá một chu kỳ hoạt động kinh doanh; - Tại thời điểm xem xét cho vay, khách hàng không có nợ xấu tại các tố chức tín dụng; - Trong quá trình cho vay tuần hoàn, nếu khách hàng có nợ xấu tại các tổ chức tín dụng thì không được thực hiện kéo dài thời hạn trả nợ theo thỏa thuận. Các phương thức cho vay khác được kết họp các phương thức cho vay quy 8 định tại khoản a,b,c,d,e,f,g và khoản h Điều này, phù họp với điều kiện hoạt động kinh doanh của tổ chức tín dụng và đặc điểm của khoản vay 1. Vai trò hoạt động tín dụng 1.
Đối với nền kỉnh tế. - Đẩy nhanh tốc độ luân chuyển vốn: Tín dụng giúp luân chuyển vốn từ người thừa vốn (do chi tiêu ít hơn thu nhập) sang người thiểu vốn trong nền kinh tế (do đầu tư nhiều hơn' thu nhập). Nhu cầu Nhu cầu sử dụng vốn tín dụng trong nền kinh tế rất đa dạng từ đầu tư mở rộng sản xuất, duy trì hoạt động của doanh nghiệp đến thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng của cá nhân. Người có vốn trong nền kinh tế thường không đồng thời là người có cơ hội sinh lời cao do đó nếu không có ngân hàng, sự luân chuyển vốn giữa các chủ thể trong nền kinh tế sẽ ách tắc.
Nền kinh tế cần tín dụng như một kênh để thúc đẩy quá trình luân chuyển vốn từ nơi dư thừa đến nơi thiếu hụt. - Tín dụng ngân hàng giúp phân bổ hiệu quả các nguồn lực trong nền kinh tế: Thông qua tín dụng, dòng vốn được ngân hàng luân chuyển từ nơi dư thừa vốn, hiệu quả đầu tư thấp đến nơi có hiệu quả đầu tư cao hơn nhưng thiếu hụt vốn. Điều này gián tiếp tạo tăng trưởng kinh tế và công ăn việc làm trong xã hội. - Tín dụng ngân hàng góp phần lưu thông tiền tệ, hàng hóa và điều tiết thị trường.
Thông qua tín dụng, vòng quay của tiền tệ được tăng lên làm cho hàng hóa được lưu thông một cách liên tục không bị ngưng trệ do thiếu công cụ thanh toán. - Tín dụng mang lại nguồn thu cho ngân sách chính là phần thuế thu nhập từ hoạt động tín dụng và lãi từ ủy thác vốn đầu tư vốn của chính phủ. - Thúc đẩy tăng trưởng kinh tể: Tín dụng được cung ứng ra nền kinh tế nhằm đáp ứng chủ yếu nhu cầu về vốn của các doanh nghiệp và nhu cầu tiêu dùng của cá nhân. Tín dụng cho doanh nghiệp giúp hoạt động sản xuất kinh doanh diễn ra liên tục, cung ứng đầy đủ và kịp thời hàng hóa cho nền kinh tế, tín dụng cá nhân góp phần kích cầu tiêu dùng từ đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế - Truyền tải chính sách tiền tệ của ngân hàng trung ương đến nền kinh tế: Bằng nhiều công cụ khác nhau mà NHTW tác động đến hoạt động tín dụng của các ngân 9 hàng thương mại (tái chiết khấu, dự chữ bắt buộc.) nhằm thắt chặt hay mở rộng cấp tín dụng mà lãi suất chính là kim chỉ nam cho các chủ thể khác trong nền kinh tế về các chính sách của NHTW.
Lãi suất thay đổi sẽ điều tiết các hoạt động của các chủ thể trong nền kinh tế từ đó quyết định đến các biến số kinh tế vĩ mô (giá cả, tăng trưởng kinh tế, công ăn việc làm.) - Hoạt động tín dụng góp phần thúc đẩy quá trình mở rộng mối quan hệ giao lưu kinh tế quốc tế. Trước xu thế quốc tế hóa, sự giao lưu kinh tế giữa các nước luôn được đặt ra. Trong nền kinh tế mở thì các doanh nghiệp không chỉ có quan hệ mua bán với các thành phần khác trong nền kinh tế mà còn có những quan hệ xuất nhập khấu với các doanh nghiệp nước ngoài. Ngân hàng thương mại có thể thúc đẩy mối quan hệ này thông qua hình thức bảo lãnh, cho vay .đối với các doanh nghiệp để từ đó nâng cao uy tín của doanh nghiệp trên trường quốc tế.
Đối với khách hàng - Tín dụng đáp ứng nhu cầu vốn kịp thời của khách hàng. Đối với doanh nghiệp đó là bổ sung kịp thời vốn lưu động, giúp hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra bình thường và liên tục tạo điều kiện phát triên và gia tăng lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh. Đối với cá nhân, tín dụng giúp đáp ứng nhu câu vốn cho tiêu dùng, đầu tư cá nhân.