phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, các bảng biểu số liệu, sơ đồ, hình vẽ Luận văn đƣợc chia làm 4 chƣơng; trong đó: Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và Cơ sở lý luận về tín dụng và quản lý hoạt động tín dụng ngân hàng thƣơng mại trong nền kinh tế thị trƣờng. Chƣơng 2: Phƣơng pháp và thiết kế nghiên cứu. Chƣơng 3: Thực trạng quản lý hoạt động tín dụng tại Ngân hàng thƣơng mại cổ phần Đầu tƣ và Phát triển Việt Nam chi nhánh Hà Giang. Chƣơng 4: Giải pháp hoàn thiện quản lý hoạt động tín dụng tại Ngân hàng thƣơng mại cổ phần Đầu tƣ và Phát triển Việt Nam chi nhánh Hà Giang.
4 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƢỜNG 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Lĩnh vực lĩnh vực tài chính, ngân hàng đã có rất nhiều đề tài nghiên cứu, từ nghiên cứu về tín dụng cho đến các nghiên cứu về quản trị tín dụng các NHTM nói chung, có thể kể đến các đề tài nghiên cứu thực tiễn có liên quan nhƣ: Đề tài “Hoàn thiện hệ thống tín dụng nông thôn đáp ứng nhu cầu vốn phát triển nông nghiệp các Tỉnh miền núi Tây Nguyên” của tác giả Đặng Văn Quang năm 1999. Đề tài tập trung nghiên cứu mở rộng và hoàn thiện các mô hình tổ chức tín dụng, chủ yếu là các NHTM để đảm bảo tiện ích cho ngƣời vay vốn phát triển nông nghiệp vùng Tây Nguyên; Đề tài: “Phát triển các nghiệp vụ tín dụng của các ngân hàng thƣơng mại Việt Nam” của Nguyễn Kim Anh, bảo vệ tại Đại học Kinh tế quốc dân năm 2004. Nội dung của đề tài tập trung vào nghiên cứu đa dạng hóa các nghiệp vụ tín dụng của NHTM giai đoạn cơ cấu lại sau khủng hoảng tài chính - tiền tệ khu vực; Luận văn thạc sỹ “Giải pháp nâng cao chất lƣợng tín dụng tại Sở Giao dịch II - Ngân hàng công thƣơng Việt Nam” của Trƣơng Thị Thu Ngân - Đại học kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh; Luận văn thạc sỹ “Nâng cao chất lƣợng tín dụng tại Chi nhánh ngân hàng đầu tƣ và phát triển Đông Đô” của Nguyễn Thu Phƣơng - Đại học kinh tế quốc dân, cùng với luận văn của nhiều học viên các trƣờng đại học trong cả nƣớc về vấn đề chất lƣợng tín dụng và quản trị hoạt động tín dụng ngân hàng.
Tuy nhiên các nghiên cứu thực tiễn trên đề cập đến những giải pháp chung nhất và mang tính thời điểm, phạm vi trong một tổ chức cụ thể, mặt khác một số đề tài mới chỉ tập trung chủ yếu nghiên cứu về lĩnh vực quản lý rủi ro tín dụng. Do đó đứng trƣớc bối cảnh hiện nay và với một tổ chức nhƣ 5 BIDV Hà Giang hoạt động trên một địa bàn miền núi đặc biệt khó khăn, thì các giải pháp không còn phù hợp nữa. Vì vậy cần có những nghiên cứu thật chi tiết về quản lý hoạt động quản lý hoạt động tín dụng đối với BIDV Hà Giang nhằm đáp ứng đƣợc yêu câu phát triển của ngân hàng cũng nhƣ phục vụ tốt cho chính sách phát triển kinh tế, chính trị và xã hội trên địa bàn tỉnh Hà Giang. Vai trò của tín dụng đối với phát triển kinh tế xã hội.
Khái niệm về tín dụng Tín dụng (credit) xuất phát từ chữ La tinh là: credo (tin tƣởng, tín nhiệm). Tín dụng là một giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hóa) giữa bên cho vay (ngân hàng và các định chế tài chính khác) và bên đi vay (cá nhân, doanh nghiệp và các chủ thể khác), trong đó bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán. Tín dụng ngân hàng là một hình thức phát triển cao của tín dụng, tuy nhiên nó vẫn giữ nguyên đƣợc bản chất ban đầu của quan hệ tín dụng (Hồ Diệu, 2001, trang 19-20). Dưới góc độ chuyển dịch quỹ cho vay: Tín dụng đƣợc coi là phƣơng pháp chuyển dịch quỹ từ chủ thể thặng dƣ vốn sang chủ thể thiếu hụt vốn.
Theo quan hệ tài chính cụ thể: Tín dụng là một giao dịch về tài sản trên cơ sở có hoàn trả giữa hai chủ thể. Theo chức năng hoạt động của ngân hàng: Tín dụng là một giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hoá) giữa bên cho vay (ngân hàng và các định chế tài chính khác) và bên đi vay (cá nhân, doanh nghiệp và các chủ thể khác). Trong đó, bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng một thời gian nhất định theo thoả thuận (Hồ Diệu, 2001, trang 20). Theo Luật các tổ chức tín dụng: cấp tín dụng là việc Tổ chức tín dụng thỏa thuận để tổ chức, các nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền trong một thời gian nhất định theo nguyên tắc có 6 hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác (Luật các TCTD, 2010, trang 4).
Như vậy từ những quan niệm trên, có thể thấy bản chất của tín dụng là giao dịch về tài sản trên cơ sở có thời hạn và hoàn trả. Tài sản trong quan hệ tín dụng có một số đặc trƣng nhƣ sau (Hồ Diệu, 2001, trang 21): Thứ nhất, tài sản giao dịch trong quan hệ tín dụng bao gồm hai hình thức là cho vay (bằng tiền) và cho thuê (bất động sản và động sản). Trong những năm trƣớc đây, hoạt động tín dụng chỉ có hình thức chủ yếu là cho vay. Xuất phát từ đó mà nhiều lúc thuật ngữ tín dụng và cho vay đƣợc coi là đồng nghĩa với nhau.
Từ những năm 1970 trở lại đây, cho thuê tài chính đã đƣợc các ngân hàng hoặc các định chế tài chính cung cấp cho khách hàng. Đây là một hình thức tín dụng bằng tài sản thực (nhà ở, văn phòng, máy móc thiết bị.) Thứ hai, xuất phát từ nguyên tắc hoàn trả, ngƣời cho vay khi chuyển giao tài sản cho ngƣời đi vay sử dụng phải có cơ sở để tin rằng ngƣời đi vay sẽ trả đúng hạn. Đây là yếu tố hết sức cơ bản trong quản lý hoạt động tín dụng. Trong thực tế, các nhân viên tín dụng khi xét duyệt cho vay không dựa trên cơ sở đánh giá mức độ tín nhiệm mà lại chú trọng đến các bảo đảm về tài sản.
Thứ ba, giá trị hoàn trả thông thƣờng phải lớn hơn giá trị lúc cho vay. Nói cách khác, ngƣời đi vay phải trả thêm phần lãi ngoài vốn gốc. Thứ tư, trong quan hệ tín dụng ngân hàng, tiền vay đƣợc cấp trên cơ sở cam kết hoàn trả vô điều kiện. Phân loại tín dụng Phân loại tín dụng là việc sắp xếp các khoản cho vay theo từng nhóm dựa trên một số tiêu thức nhất định.
Có nhiều căn cứ để phân loại tín dụng. Dƣới đây là một số căn cứ và phân loại cụ thể (Hồ Diệu, 2001, trang 22 đến 7 trang 29): - Theo mục đích và lĩnh vực sử dụng: có tín dụng bất động sản, tín dụng công nghiệp, tín dụng thƣơng nghiệp, tín dụng nông nghiệp (Hồ Diệu, 2001, trang 22). + Tín dụng bất động sản: Là loại tín dụng liên quan đến việc mua sắm và xây dựng bất động sản nhƣ: nhà ở, đất đai, nhà xƣởng, máy móc thiết bị. + Tín dụng công nghiệp là loại cho vay để bổ sung vốn lƣu động phục vụ sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực công nghiệp.
+ Tín dụng thƣơng nghiệp, dịch vụ là quan hệ tín dụng phát sinh trong mua bán, trao đổi hàng hoá dịch vụ. + Tín dụng nông nghiệp là quan hệ tín dụng phát sinh trong lĩnh vực nông nghiệp. + Tín dụng cho thuê là hình thức tín dụng mà ngƣời sở hữu tài sản cho thuê tài sản trong một thời hạn nhất định. + Tín dụng cho vay cá nhân là loại cho vay để đáp ứng các nhu cầu tiêu dùng nhƣ mua sắm các vật dụng đắt tiền và các khoản cho vay để trang trải các chi phí thông thƣờng của đời sống thông qua phát hành thẻ tín dụng.
- Theo thời hạn: có tín dụng ngắn hạn, tín dụng trung hạn và tín dụng dài hạn (Hồ Diệu, 2001, trang 23). + Tín dụng ngắn hạn là khoản tín dụng dƣới 12 tháng và thƣờng là để bù đắp sự thiếu hụt vốn lƣu động của các doanh nghiệp và nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của các cá nhân. + Tín dụng trung hạn là khoản tín dụng có thời hạn từ 1 đến 5 năm. Tín dụng trung hạn chủ yếu để đầu tƣ mua sắm tài sản cố định, đổi mới thiết bị công nghệ.
+ Tín dụng dài hạn là khoản tín dụng có thời hạn trên 5 năm, cá biệt có thể lên đến 40 năm. Khoản tín dụng này thƣờng sử dụng phục vụ cho các công trình quốc tế dân sinh nhƣ: đầu tƣ xây dựng hạ tầng, giao thông, điện nƣớc, văn hoá giáo dục. - Theo mức độ tín nhiệm với khách hàng: có tín dụng có bảo đảm, tín 8 dụng tín chấp (Hồ Diệu, 2001, trang 24). + Tín dụng có đảm bảo là khoản tín dụng dựa trên cơ sở các đảm bảo nhƣ thế chấp, cầm cố, bảo đảm bừng tài sản của ngƣời thứ ba.
+ Tín dụng tín chấp là khoản tín dụng không có đảm bảo bằng các biện pháp kể trên mà chỉ dựa vào uy tín của bản thân khách hàng. Đối với những khách hàng tốt, trung thực trong kinh doanh, tài chính lành mạnh thì có thể đƣợc cung cấp các khoản tín dụng không cần đến nguồn đảm bảo khác. - Theo phương pháp hoàn trả: Dựa vào căn cứ này cho vay của ngân hàng thƣơng mại đƣợc chia làm 2 loại (Hồ Diệu, 2001, trang 25). + Tín dụng có thời hạn hoàn trả là loại cho vay có thỏa thuận thời hạn trả nợ cụ thể theo hợp đồng, gồm có: Cho vay chỉ một kỳ hạn trả nợ (hay còn gọi là phi trả góp); cho vay có nhiều kỳ hạn trả nợ cụ thể hay còn gọi là cho vay trả góp; Cho vay hoàn trả nợ nhiều lần nhƣng không có kỳ hạn trả nợ cụ thể.
+ Tín dụng cho vay không có thời hạn cụ thể. Đối với loại cho vay không có thời hạn cụ thể thì ngân hàng có thể yêu cầu hoặc ngƣời đi vay tự nguyện trả nợ bất cứ lúc nào, nhƣng phải báo trƣớc một thời gian hợp lý đƣợc ghi trong hợp đồng tín dụng.