CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA QUỸ XÃ HỘI 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu Trên thế giới có nhiều công trình nghiên cứu về hoạt động tín dụng tại các tổ chức tài chính vi mô Bài viết của tác giả J. Ledgerwood (1999), “Cẩm nang tài chính nông thôn: Khía cạnh thể chế và tài chính” đã tổng kết lại những vấn đề then chốt nhất về hoạt động của các tổ chức tài chính vi mô ở nông thôn. Các vấn đề lớn đã được tác giả khái quát hóa như: môi trường hoạt động của khu vực tài chính nông thôn và tác động của nó đến hoạt động tài chính ở khu vực này; các sản phẩm cơ bản cũng như cách thức phát triển sản phẩm; đánh giá hoạt động và quản lý bền vững tài chính của các tổ chức này. Các nghiên cứu của Meyer và Nagarajan (1992) “Đánh giá vai trò của tài chính phi chính thức trong qua trình phát triển’’ và (2000) ”Thị trường tài chính nông thôn ở Châu Á: Các chính sách, mô hình và hoạt động” đã phân tích các đặc điểm của thị trường tài chính vi mô, tập trung vào các vấn đề lớn như chi phí giao dịch cao, thiếu tài sản đảm bảo và từ đó lãi suất cho vay đối với khu vực nông thôn bị tăng cao hơn so với khu vực đô thị.
Steinwand năm (2003) “Thách thức của sự tiếp cận bền vững: Kinh nghiệm của năm quốc gia châu Á” đã tổng kết các kinh nghiệm từ năm quốc gia châu Á trong việc phát triển tài chính vi mô cũng như đưa ra các phương pháp nhằm quản lý tín dụng của các tổ chức này một cách bền vững. Các nghiên cứu của Yunus (2003) về “Giảm phân nửa nghèo đói vào năm 2015” và (2005) “Mở rộng tài chính vi mô để đạt mục tiêu phát triển thiên nhiên kỷ’’ đã khẳng định thêm tầm quan trọng của tài chính vi mô đối với vấn đề giảm nghèo và đạt mục tiêu thiên niên kỷ do Liên hiệp quốc đề ra. 5 Qua khảo sát các công trình nghiên cứu trên thế giới, đều dễ nhận thấy là cho tới thời điểm này chưa có một công trình nghiên cứu nào bàn về vấn đề quản lý hoạt động tín dụng của các tổ chức tài chính vi mô Việt Nam Ở Việt Nam quản lý hoạt động tín dụng đối với người nghèo cũng đã được nghiên cứu: Bài viết của tác giả ĐàoVăn Hùng (2000) “Các giải pháp tín dụng đối với người nghèo ở Việt Nam hiện nay” đã phân tích cụ thể về tín dụng cho người nghèo ở Việt Nam; nghiên cứu sự tiếp cận của hộ gia đình đối với các dịch vụ tài chính chính thức ở Việt Nam, phân tích sâu hơn về sự tiếp cận tài chính vi mô của người nghèo ở Việt Nam, sử dụng các số liệu sơ cấp như số liệu điều tra về mức tiếp cận của dự án mở rộng tiếp cận Canada năm 2001. Đồng tác giả Nguyễn Kim Anh, Nguyễn Thanh Tâm (2013) sách chuyên khảo “Mức độ bền vững của các tổ chức tài chính vi mô Việt Nam: Thực trạng và một số khuyến nghị” đã nghiên cứu về các mức độ bền vững của các tổ chức tài chính vi mô hướng tới phục vụ người nghèo, người thu nhập thấp và các đối tượng khách hàng tài chính vi mô khác.
Đồng tác giả Nguyễn Kim Anh, Ngô Văn Thứ, Lê Thanh Tâm, Nguyễn Thị Tuyết Mai (2011) “Tài chính vi mô với giảm nghèo tại Việt Nam: Kiểm định và so sánh” đã phân tích mối liên hệ giữa tài chính vi mô và giảm nghèo tại Việt Nam. Tuy nhiên, điều này khó thực hiện được vì vấn đề giảm nghèo phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố trong đó, tài chính vi mô chỉ là một trong các công cụ giúp người nghèo có thu nhập và nâng cao vị thế xã hội. Ngân hàng thế giới (2006) nghiên cứu “Việt Nam: Phát triển một chiến lược toàn diện để mở rộng tiếp cận (của hộ nghèo) đối với các dịch vụ tài chính vi mô. Tăng cường tiếp cận hiệu quả và bền vững” đã thực hiện khảo sát và đánh giá về bức tranh chung tài chính vi mô Việt Nam và đưa ra một số khuyến nghị về chính sách, đặc biệt việc thực hiện nghị định 28/2005 ngày 09 tháng 03 năm 2005 của Chính phủ đối với các tổ chức tài chính quy mô nhỏ.
6 Bên cạnh đó, cũng có một số nghiên cứu phân tích về các khía cạnh hoạt động của từng tổ chức tài chính vi mô riêng rẽ. Một số nghiên cứu về hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân, tác giả Lê Minh Hồng (2000) “Giải pháp hoàn thiện và phát triển hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân trong khu vực kinh tế nông thôn Việt Nam” và tác giả Bùi Chính Hưng (2004) “Giải pháp phát triển Quỹ tín dụng nhân dân ở Việt Nam” năm 2004 đã phân tích về hoạt động và các khuyến nghị phát triển hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân. Một số khuyến nghị của hai nghiên cứu trên đã được ngân hàng nhà nước áp dụng cho quá trình cơ cấu lại hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân giai đoạn 2000 – 2005. Một số nghiên cứu về ngân hàng chính sách xã hội cũng đã được thực hiện.
Tác giả Hà Thị Hạnh (2003) “Giải pháp hoàn thiện mô hình tổ chức và cơ chế hoạt động của NHCSXH” tập trung vào các vấn đề tổ chức hoàn thiện hoạt động của Ngân hàng chính sách xã hội.Seward (2004) “Nghiên cứu chính sách khu vực tài chính: Ngân hàng chính sách xã hội” cũng thực hiện phân tích về các vấn đề khó khăn của Ngân hàng chính sách xã hội, cũng như hướng phát triển cho ngân hàng này trong trung hạn. Còn tác giả Trương Thị Hoài Linh (2004) “Mở rộng cho vay đối với hộ nghèo của Ngân hàng chính sách xã hội Việt Nam” tập trung vào hoạt động tín dụng của Ngân hàng chính sách xã hội đối với người nghèo. Nghiên cứu của tác giả Lê Huy Du (2004) “Giải pháp đẩy mạnh công tác huy động vốn của NHCSXH” tập trung vào hoạt động huy động vốn, chủ yếu là tiết kiệm đối với ngân hàng. Qua việc nghiên cứu các công trình trên, có thể thấy vấn đề phân tích sự phát triển hoạt động của các tổ chức tài chính vi mô Việt Nam theo các chuẩn mực quốc tế chưa được đề cập một cách toàn diện và có hệ thống.
Các chỉ tiêu đánh giá phát triển hoạt động cũng như mô hình về mối quan hệ giữa các biến đánh giá đã được tổng kết. Những kinh nghiệm quốc tế cho sự phát triển các tổ chức tài chính vi mô nói chung đã có, nhưng khả năng áp dụng đối với từng tổ chức tài chính vi mô tại Việt Nam hiện nay 7 vẫn chưa được phân tích kỹ lưỡng dựa trên đặc điểm của từng tổ chức. Thời điểm phân tích dừng lại ở số liệu 2010. Vì vậy, tác giả đã chọn đề tài “Quản lý hoạt động tín dụng Quỹ hỗ trợ phụ nữ nghèo“ đề phân tíc nhằm góp phần bổ sung, luận giải thêm một số nội dung về lý luận và thực tiễn quản lý hoạt động tín dụng chưa được hệ thống hóa, giải quyết.
Đặc biệt, sẽ hệ thống hoá và phân tích chuyên sâu về lý luận và thực tiễn quản lý hoạt động tín dụng tại Quỹ hỗ trợ Phụ nữ nghèo. Do đó, đây là một công trình nghiên cứu độc lập, không trùng lặp với các công trình đã công bố.2 Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động tín dụng 1.1 Khái niệm quản lý hoạt động tín dụng 1. Tín dụng Lịch sử phát triển cho thấy, tín dụng là một phạm trù kinh tế và cũng là một sản phẩm của nền sản xuất hàng hoá. Nó tồn tại song song và phát triển cùng với nền kinh tế hàng hoá và là động lực quan trọng thúc đẩy nền kinh tế hàng hoá phát triển lên những giai đoạn cao hơn.
Quan hệ tín dụng đã hình thành và ra đời từ rất lâu, thậm chí mối quan hệ tín dụng thô sơ nhất được phát sinh ngay từ sau khi chế độ cộng sản nguyên thuỷ tan rã. Quan hệ tín dụng đã phát triển qua nhiều hình thức từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, qua từng thời kỳ, từng giai đoạn phát triển mà dần hình thành nên các hình thức tín dụng mới có trình độ cao hơn, đã có các hình thức tín dụng sau: tín dụng nặng lãi, tín dụng thương mại, tín dụng ngân hàng, tín dụng nhà nước và tín dụng tiêu dùng. Tín dụng tồn tại và phát triển qua nhiều hình thái kinh tế - xã hội, đã có nhiều khái niệm khác nhau về tín dụng được đưa ra.
Tín dụng là quan hệ vay mượn dựa trên nguyên tắc hoàn trả kèm theo lợi tức, nó để thoả mãn nhu cầu của cả 2 bên, do đó nó là một quan hệ bình đẳng, cả 2 bên cùng có lợi và mang tính thoả thuận lớn. 8 Danh từ tín dụng để chỉ một số hành vi kinh tế rất phức tạp như bán chịu hàng hóa, cho vay, bảo lãnh. Trong mỗi hành vi tín dụng như như trên, hai bên sẽ cam kết với nhau một số điều kiện: - Một bên trao ngay số hàng hóa hay tiền bạc. - Bên kia cam kết sẽ hoàn lại những tài sản đó trong một thời gian nhất định và thực hiện một số điều kiện nhất định nào đó mà hai bên đã thỏa thuận trước.
Ở Việt Nam, Tín dụng là hình thức vận động nguồn tiền tệ nhàn rỗi trong nước để hình thành nguồn vốn tín dụng của Ngân hàng Nhà nước và các Ngân hàng khác, đồng thời sử dụng nó để cho vay phục vụ sự phát triển kinh tế Song khái quát lại có thể hiểu tín dụng theo khái niệm cơ bản sau: “ Tín dụng là một phạm trù kinh tế phản ánh mối quan hệ giao dịch giữa hai chủ thể, trong đó một bên chuyển giao một lượng giá trị sang cho bên kia được sử dụng trong một thời gian nhất định, đồng thời bên nhận được phải cam kết hoàn trả theo thời hạn đã thoả thuận.” Mối quan hệ giao dịch này thể hiện các nội dung sau: - Người cho vay chuyển giao cho người đi vay một lượng giá trị nhất định. Giá trị này có thể dưới hình thái tiền tệ hoặc dưới hình thái hiện vật như: hàng hoá, máy móc, thiết bị, bất động sản. - Người đi vay chỉ được sử dụng tạm thời trong một thời gian nhất định, sau khi hết thời hạn sử dụng theo thoả thuận, người đi vay phải hoàn trả cho người cho vay.