CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN VE QUAN LÝ THU THUÊ GIÁ TRI GIA TANG CUA CỤC THUE DOI VỚI DOANH NGHIỆP NGOÀI QUOC DOANH 1. Thuế giá tri gia tăng 1. Khái niệm và đặc điểm của thuế giá trị gia tăng 1. Khải niệm về thuế và thuế giá trị gia tăng a.
Khái niệm thuế Theo từ điển Tiếng Việt thì thuế là khoản tiền hay hiện vật mà người dân hoặc các tổ chức kinh doanh, tuỳ theo tai sản, thu nhập, nghề nghiệp. buộc phải nộp cho Nhà nước theo mức mà Nhà nước quy định. Theo định nghĩa của kinh tế học thì thuế là một biện pháp đặc biệt, theo đó, Nhà nước sử dụng quyên lực của mình dé chuyên một phần nguồn lực từ khu vực tư sang khu vực công nhằm thực hiện các chức năng kinh tế — xã hội của Nhà nước. Từ những khái niệm trên có thé nhận thấy thuế có ba đặc trưng cơ ban, bao gồm: - Thứ nhất, nội dung kinh tế của thuế được đặc trưng bởi các mối quan hệ tiền tệ phát sinh giữa nhà nước và các pháp nhân, các thể nhân trong xã hội.
- Thứ hai, những mối quan hệ dưới dạng tiền tệ này được nảy sinh một cách khách quan và có ý nghĩa xã hội đặc biệt- việc chuyên giao thu nhập có tính chất bắt buộc theo mệnh lệnh của Nhà nước. - Thứ ba, xét theo khía cạnh pháp luật, thuế là một khoản nộp cho Nhà nước được pháp luật quy định theo mức thu và thời hạn nhất định. Khái niệm thuế giá trị gia tăng Luật Thuế Giá trị gia tăng được Quốc hội khoá IX thông qua tại kỳ họp thứ 11 ngày 10 tháng 5 năm 1997 và chính thức có hiệu lực từ ngày 1/1/1999. Năm 2008, Luật Thuế giá trị gia tăng sửa đổi số 13/2008/QH12 được Quốc hội khoá XI thông qua tại kỳ họp thứ 3 ngày 3 tháng 6 năm 2008.
Theo Điều 2 của Luật Thuế giá trị gia tăng năm 2008 định nghĩa: “Thuế giá tri gia tăng là thuế tính trên gia tri tăng thêm của hang hoá, dịch vu phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu ding”[17]. Như vậy, thuế giá trị gia tăng là thuế tính trên phần giá trị gia tăng của hàng hoá dịch vụ phát sinh trong khâu sản xuất và lưu thông. Phần giá trị gia tăng của hàng hoá, dịch vụ được xác định bằng chênh lệch giữa tong giá trị hàng hoa, dịch vụ bán ra với tong giá trị hang hóa, dich vụ mua vao tương ứng trong kỳ tính thuế. Gia tri gia tăng của Tong gia tri Tổng giá tri hàng hoá, dịch vụ = hànghoá dịchvụ - hàng hoá, dịch vụ chịu thuê bán ra mua vao tương ứng 1.
Đặc trưng cua thuế giá trị gia tăng Thuế giá trị gia tăng có một số đặc trưng cơ bản sau đây : - Đây là một loại thuế gián thu, được đánh vào người tiêu dùng cuối cùng, mặc dù chủ thé đem nộp thuế cho cơ quan thu thuế là các doanh nghiệp, tô chức kinh tế. - Thuế giá trị gia tăng đánh vào tất cả quá trình sản xuất, lưu thông hàng hoá dịch vụ nhưng chỉ tính trên phần giá trị tăng thêm của mỗi công đoạn sản xuất, kinh doanh. - Thuế giá trị gia tăng không chịu ảnh hưởng bởi kết quả kinh doanh của người nộp thuế, không phải là yếu tố của chi phí mà chi đơn thuần là một khoản cộng thêm vào giá bán cho người cung cấp hàng hoá, dịch vụ. - Đối tượng điều tiết của thuế giá trị gia tăng là phần thu nhập của người tiêu dùng sử dụng dé mua hàng hoá và dịch vụ.
Như vậy về nguyên tắc chỉ cần thu thuế ở khâu bán hàng cuối cùng là đủ. Tuy nhiên trên thực tế rất khó phân biệt đâu là tiêu dùng cuối cùng và đâu là tiêu dùng trung gian vì thé cứ có hành vi mua hàng là phải tính thuế. Nếu là tiêu dùng trung gian thì số thuế đó sẽ được người tiêu dung hành hóa, dịch vụ ở giai đoạn sau chi trả khi mua hang hóa, dịch vụ. Nội dung cơ bản của thuế giá trị gia tăng 1.
Đối tượng chịu thuế và người nộp thuế giá trị gia tăng - Đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng: Theo quy định tại điểm 1, mục I Thông tư 129/2008/TT-BTC ngày 26/12/2008 của Bộ Tài chính quy định đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng là hàng hoá, dịch vụ dùng cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng ở Việt Nam (bao gồm cả hàng hóa, dịch vụ mua của tô chức, cá nhân ở nước ngoài), trừ các đối tượng không chịu thuế giá trị gia tăng tại mục II cua Thông tư nay.[1] - Người nộp thuế gid trị gia tăng: Theo quy định tại điểm 2, mục I Thông tư 129 người nộp thuế giá trị gia tăng là tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hang hoá, dịch vụ chịu thuế giá tri gia tăng ở Việt Nam, không phân biệt ngành nghề, hình thức, tổ chức kinh doanh và tô chức, cá nhân nhập khâu hàng hoá, mua dich vụ từ nước ngoài chịu thuế giá trị gia tăng. [1] Trong khuôn khổ của bản luận văn thạc sỹ này, tác giả tập trung đi sâu phân tích người nộp thuế là các doanh nghiệp ngoài quốc doanh thực hiện việc kê khai và nộp thuế giá trị gia tăng tại cục thuế cấp tỉnh. Đối tượng doanh nghiệp ngoài quốc doanh thuộc diện phải kê khai, nộp thuế giá trị gia tăng tại cục thuế cấp tỉnh là những doanh nghiệp ngoài quốc doanh quy mô lớn; có phạm vi hoạt động kinh doanh liên quan đến nhiều quận, huyện, nhiều tỉnh, thành phố; doanh nghiệp quản lý nguồn thu lớn, quan trọng. Căn cứ tính thuế giá trị gia tăng Dé xác định số thuế giá trị gia tăng mà các doanh nghiệp ngoài quốc doanh phải nộp, cơ quan thuế căn cứ vào giá tính thuế và thuế suất thuế giá trị gia tăng.
Giá tính thuế Giá tính thuế của hàng hoá va dịch vụ được quy định chi tiết, cụ thể tại Thông tư 129/2008/TT-BTC của Bộ Tài chính. Theo đó giá tính thuế được xác định như sau: - Đối với hàng hóa, dịch vụ do cơ sở sản xuất, kinh doanh bán ra là giá bán chưa có thuế GTGT. Đối với hàng hóa, dịch vụ chịu thuế tiêu thụ đặc biệt là giá bán đã có thuế tiêu thụ đặc biệt nhưng chưa có thuế GTGT. Giá tính thuế đối với các loại hàng hóa, dịch vụ bao gồm cả khoản phụ thu và phí thu thêm ngoài giá hàng hóa, dịch vụ mà cơ sở kinh doanh được hưởng, trừ các khoản phụ thu và phí cơ sở kinh doanh phải nộp ngân sách nhà nước.
Trường hợp cơ sở kinh doanh áp dụng hình thức giảm giá bán, chiết khấu thương mại dành cho khách hàng (nếu có) thì giá tính thuế GTGT là giá bán đã giảm, đã chiết khấu thương mại dành cho khách hàng. - Đối với hàng hoá, dịch vụ dùng dé trao đổi, tiêu ding nội bộ, biếu, tặng cho, trả thay lương cho người lao động, là giá tính thuế GTGT của hàng hoá, dich vụ cùng loại hoặc tương đương tại thời điểm phát sinh các hoạt động này. Hàng hoá, dịch vụ tiêu dùng nội bộ là hàng hoá, dịch vụ do cơ sở kinh doanh sản xuất hoặc cung ứng sử dụng cho tiêu dùng của cơ sở kinh doanh, 10 không bao gồm hàng hoá, dich vụ sử dụng dé tiếp tục quá trình sản xuất kinh doanh của cơ sở. [1] Hàng hoá luân chuyền nội bộ như xuất hàng hoá dé chuyền kho nội bộ, xuất vật tu, bán thành phẩm để tiếp tục quá trình sản xuất trong một cơ sở sản xuất, kinh doanh không phải tính, nộp thuế GTGT.
- Đối với hoạt động cho thuê tài sản như cho thuê nhà, văn phòng, xưởng, kho tảng, bến, bãi, phương tiện vận chuyền, máy móc, thiết bị là số tiền cho thuê chưa có thuế GTGT. Trường hợp cho thuê theo hình thức trả tiền thuê từng kỳ hoặc trả trước tiền thuê cho một thời hạn thuê thì giá tính thuế là tiền cho thuê trả từng kỳ hoặc trả trước cho thời hạn thuê chưa có thuế GTGT. Trường hợp thuê máy móc, thiết bị, phương tiện vận tải của nước ngoài thuộc loại trong nước chưa sản xuất được để cho thuê lại, giá tính thuế được trừ giá thuê phải tra cho nước ngoai. Giá cho thuê tài sản do các bên thỏa thuận được xác định theo hợp đồng.
Trường hợp pháp luật có quy định về khung giá thuê thì giá thuê được xác định trong phạm vi khung giá quy định. - Đối với hàng hóa bán theo phương thức trả góp, trả chậm là giá tính theo giá bán trả một lần chưa có thuế GTGT của hàng hoá đó, không bao gồm khoản lãi trả góp, trả chậm. - Đối với gia công hàng hóa là giá gia công theo hợp đồng gia công chưa có thuế GTGT, bao gồm cả tiền công, chi phí về nhiên liệu, động lực, vật liệu phụ và chi phí khác phục vụ cho việc gia công hàng hoá. - Đối với xây dựng, lắp đặt là giá trị công trình, hạng mục công trình hay phan công việc thực hiện bàn giao chưa có thuế GTGT.
II Trường hợp xây dựng, lắp đặt có bao thầu nguyên vật liệu là giá xây dựng, lắp đặt bao gồm cả giá trị nguyên vật liệu chưa có thuế GTGT. Trường hợp xây dựng, lắp đặt không bao thầu nguyên vật liệu thì giá tính thuế là giá trị xây dựng, lắp đặt không bao gồm giá trị nguyên vật liệu, chưa có thuế GTGT. Trường hợp xây dựng, lắp đặt thực hiện thanh toán theo hạng mục công trình hoặc giá trị khối lượng xây dựng, lắp đặt hoàn thành bàn giao là giá tính theo gia tri hạng mục công trình hoặc giá tri khối lượng công việc hoàn thành bàn giao chưa có thuế GTGT. - Đối với hoạt động kinh doanh bất động sản, giá tính thuế là giá chuyền nhượng bắt động sản trừ (-) giá đất (hoặc giá thuê đất) thực tế tại thời điểm chuyển nhượng.
Trường hop giá đất tai thời điểm chuyên nhượng do người nộp thuế kê khai không đủ căn cứ dé xác định giá tính thuế hợp ly theo quy định của pháp luật thì tính trừ theo giá đất (hoặc giá thuê đất) do UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quy định tại thời điểm chuyên nhượng bat động sản. Giá đất tính trừ dé xác định giá tính thuế tối da không vượt quá số tiền đất thu của khách hàng. Trường hợp xây dựng, kinh doanh cơ sở hạ tầng, xây dựng nhà để bán, chuyên nhượng có thu tiền theo tiễn độ thực hiện dự án hoặc tiến độ thu tiền ghi trong hợp đồng, giá đất được trừ (-) là giá đất thực tế tai thời điểm thu tiền lần đầu theo tiến độ.