chương 1 giáo trình đã trình bày về thuế GTGT, nêu những đặc điểm riêng biệt, nguyên tắc thiết lập, phương pháp tính thuế GTGT. với những vi dụ cụ thé đi kèm. Ngoài ra, giáo trình còn trình bày quy định về hóa don, chứng từ hàng hóa dich vụ, van dé đăng kí kê khai thuế, chế độ hoàn thuế, quyết toán thuế GTGT. Có thé nói cuốn giáo trình như cuốn số tay nhỏ có day đủ thông tin hữu ích, kiến thức cơ bản cho bạn đọc về thuế.
Nguyễn Thị Lệ Thúy, 2009. Hoàn thiện quản lý thu thuế của nhà nước nhằm tăng cường sự tuân thi thu thuế của doanh nghiệp. Luận án tiễn sĩ kinh tế. Trường Đại học Kinh tế Quốc dân — Hà Nội.
Trong đề tài của mình tác giả đã đưa ra mô hình các yếu tố ảnh hưởng đến quan lý thu thuế của nhà nước và những yếu tô ảnh hưởng đến sự tuân thủ thuế của doanh nghiệp. Mô hình nghiên cứu của Nguyễn Thị Lệ Thúy thé hiện ở hình 1. à mà Yếu tố Xã hội Nguôn lực cơ | quan thue Các yếu tô | 7 , — thuộc cơ quan --4 Yêu tô Kinh tê quản lý thuê Quản lý thu tr] Yếu tô Luật pháp 4 hoạt thuế củah Nhà |———Ị đông hỗ tr¬. Các =), nước đôi với '.
one ì Doanh nghiệp --7 Dac điêm ngành của doanh nghiệp Các yếu tố x. athe rên Wy, :A thuộc môi li Đặc diém tâm lý doanh nghiệp Quản lý các E—| trờng của cơ hoạt động quan quan lý a4 Đặc điểm hoạt động của doanh nghiệp chính thu thuê —— Bồi cảnh của quản lý thu thuế ; — QQuản lý thu thuê là yêu tô luật pháp tac động đên sự tuân thủ của DN Hình 1. Mô hình nghiên cứu của Nguyễn Thị Lệ Thúy Nhận xét: Đề tài đã đưa ra được các nhân tố tác động đến sự tuân thủ thuế của DN bao gồm: Yếu tố xã hội, yếu tố kinh tế, yếu tố pháp luật, Ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp, tâm lý doanh nghiệp và đặc điểm hoạt động doanh nghiệp. Lê Xuân Trường và Nguyễn Đình Chiến, 2013.
Nhận điện các hành vi gian lận thuế. Tạp chí Tài chính số 9, trang 11-12. Bài viết đăng trên tạp chí với nội dung: gian lận thuế là hành vi vi phạm pháp luật luôn tồn tại song hành cùng với hoạt động thuế của Nhà nước. Có thể nói, Nhà nước còn đánh thuế thì sẽ còn tồn tại hành vi này do động cơ luôn muốn giảm và trốn nghĩa vụ thuế của người nộp thuế.
Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là chúng ta chấp nhận các hành vi nói trên. Gian lận thuế sẽ giảm bớt nếu hoạt động quản lý thuế đạt hiệu quả cao, trong đó nhận diện các hành vi gian lận thuế là việc cần làm thường xuyên. Bài viết của Đình Tăng đăng trên Báo điện tử Đảng cộng sản Việt Nam ngày 20/04/2015: “Đà Nẵng: Quyết liệt chống thất thu thuế”. Nội dung bài viết: Công tác chống thất thu thuế luôn được UBND và ngành thuế TP Đà Nẵng quan tâm đây mạnh.
Không chỉ tăng cường nguồn thu cho ngân sách, công tác này còn góp phần nâng cao hiệu quả công tac quản lý và văn hóa kinh doanh trên địa ban. Những van đề can tiếp tục nghiên cứu Các công trình khoa học trên tiếp cận công tác quản lý thu thuế GTGT, chống gian lận, thất thu thuế GTGT từ nhiều cách, nhiều góc độ khác nhau, nhưng tựu chung lại, các nhà khoa học với tư cách là chủ thể sáng tạo, nghiên cứu, khảo sát, phân tích khái quát nêu trên đều có gắng giải quyết những vấn đề cốt lõi của việc nâng cao hiệu quả quản lý thu thuế GTGT dé giảm thiểu gian lận, trốn thuế với những cách thức khác nhau. Xuyên qua những công trình đó, có thé tong quan lại những van đề sau: Một là, các nhà khoa học, các tác giả đã tập trung phân tích quan niệm, vai trò, đặc điểm của thuế GTGT, những nội dung cơ bản về quản lý thu thuế GTGT. Điều này rất quan trọng giúp chúng ta hiểu được ý nghĩa của thuế GTGT đối với hoạt động thu của ngân sách nhà nước.
Hai là, từ việc đánh giá thực trạng công tác chống thất thu thuế GTGT, các công trình nghiên cứu đã rút ra được những ưu điểm, tồn tại, nguyên nhân của những tồn tại, từ đó xác định được những giải pháp chống thất thu thuế GTGT. Mặc dù đã có rất nhiều công trình nghiên cứu, tuy nhiên cho đến nay chưa có tác giả nào nghiên cứu về việc quản lý thu thuế GTGT đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn huyện Thạch Thất — TP. Hà Nội, và đây chính là khoảng trồng dé tác giả thực hiện nghiên cứu của mình. Luận văn này được thực hiện với mong muốn, trên cơ sở thực tế hoạt quản lý thu thuế GTGT của các doanh nghiệp trên địa bản do Chi cục thuế huyện Thạch Thất quản lý, tác giả đề ra một số giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thu thuế GTGT trên địa ban và nhân rộng các giải pháp ra các địa bàn khác trong cả nước.
Với quan điểm đó, luận văn xin được kế thừa và tiếp thu có chọn lọc những kết quả nghiên cứu đã công bố có liên quan đề phục vụ cho mục đích nghiên cứu của mình. Lý luận chung về thuế GTGT. Khai niệm, đặc điểm của thuế GTGT. * Khải niệm: Ở Việt Nam, thuế GTGT được nghiên cứu từ khi tiến hành cải cách thuế bước I (năm 1990) rồi được áp dụng thử nghiệm năm 1993 ở 11 đơn vị (Đường, dệt, 10 xi măng.
Thuế GTGT được ban hành thành luật và được thông qua tại kỳ họp thứ 11 Quốc hội khoá 9 ngày 10 tháng 05 năm 1997, chính thức được áp dụng từ ngày 01 tháng 01 năm 1999, Theo Điều 2 Luật Thuế GTGT số 13/2008/QH12 ngày 3/6/2008 của Quốc hội nêu rõ: “Thué giá tri gia tăng là thuế tính trên giá trị tăng thêm của hàng hóa, dich vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu ding”. Giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ được tính như sau: Giá trị gia tăng = Giá đầu ra — Giá đầu vào. * Đặc điểm cua thuế GTGT: Thuế GTGT là sắc thuế thudc loại thuế gián thu. Đây là sắc thuế có cơ sở tính thuế là phần thu nhập đem tiêu dùng trong hiện tại của người tiêu dùng.
Xét dưới góc độ pháp lý, thuế gián thu là thuế mà người chịu thuế và người nộp thuế không cùng là một, người nộp thuế là người bán hàng hóa, dịch vụ, còn người chịu thuế là người tiêu dùng cuối cùng. Chang hạn, chính quyền đánh thuế vào công ty (công ty nộp thuế) và công ty lại chuyền thuế này vào chi phí tính vào giá hàng hóa và dịch vụ, do vậy đối tượng chịu thuế là người tiêu dùng cuối cùng. Ví dụ: thuế GTGT, thuế xuất nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt. được thu từ nhà sản xuất, người bán hàng với kỳ vọng chúng sẽ được chuyên sang cho người tiêu dùng.
Nói cách khác, Nhà nước gián tiếp thu khoản thuế này của người tiêu dùng thông qua người bán hàng hóa và cung cấp dịch vụ. Thuế GTGT có phạm vi điều chỉnh rất rộng, áp dụng cho hầu hết các hàng hóa, dịch vụ sử dụng trong sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng trong tất cả các ngành nghề, ở tất cả các giai đoạn. Thuế GTGT có tinh lấy thoái so với thu nhập. Thuê GTGT đánh vào hàng hóa, dịch vụ.
Người tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ là người thực sự phải trả khoản thuế đó, không phân biệt thu nhập cao hay thấp đều phải trả số thuế như nhau do số thuế phải trả được tính trên giá bán của hàng hóa, dịch vụ chứ không tính trên thu nhập của người tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ. Như vậy, nếu so sánh giữa số thuế phải trả so với thu nhập thì người nào có thu nhập cao hơn thì tỉ lệ thấp hơn và ngược lại. 11 Thuế GTGT /à sắc thuế tiêu dùng nhiều giai đoạn nhưng không trùng lắp. Thuế GTGT đánh vào tất cả các giai đoạn của quá trình sản xuất kinh doanh nhưng chỉ tính trên phần giá trị tăng thêm của mỗi giai đoạn.
Tổng số thuế thu được của tất cả các giai đoạn đúng bằng số thuế tính trên giá bán của người tiêu dùng cuối cùng. Thuế GTGT có tinh trung lập về kinh tế cao. Thuê GTGT không phải là yếu tố chi phí mà đơn thuần là yếu tố cộng thêm ngoài giá bán của người cung cấp hàng hóa, dịch vụ. Thuế GTGT không bị ảnh hưởng trực tiếp bởi kết quả kinh doanh của người nộp thuế, bởi quá trình tổ chức và phân chia các chu trình kinh tế, sản phẩm được luân chuyên qua nhiều hay ít giai đoạn thì tổng số thuế GTGT phải nộp của tất cả các giai đoạn không thay đồi.
Thuế GTGT thwong được đánh theo nguyên tắc “điểm đến”, quyền đánh thuế thuộc về quốc gia nơi hàng hóa, dịch vụ được tiêu dùng, bất kể nó được sản xuất ở đâu. Thuế GTGT chỉ đánh vào hoạt động tiêu dùng diễn ra trong phạm vi lãnh thổ, không đánh vào hành vi tiêu dùng ngoài lãnh thé. Ưu, nhược điểm của thuế GTGT. * Ưu điểm: Ưu điểm quan trọng nhất của thuế GTGT là khắc phục được tính trùng lắp của thuế doanh thu bởi lẽ khi tính thuế GTGT ở mỗi giai đoạn của quy trình sản xuất, kinh doanh sẽ được khấu trừ số thuế GTGT ở giai đoạn trước.
Trong khi đó thuế doanh thu tính lên cả số thuế doanh thu ở khâu đã nộp. Ưu điểm thứ hai của thuế GTGT là góp phần tăng cường công tác hạch toán, thúc đây việc mua bán có hoá đơn, chứng từ. Bởi vì thuế GTGT yêu cầu nếu muốn được khấu trừ thuế của các khâu trước cần thiết phải có đầy đủ hoá đơn GTGT đầu ra và đầu vào. Ưu diém thứ ba của thuế GTGT chính là sự đơn giản của nó trong công tác quản lý thu thuế.
Người nộp thuế có thể tự mình xác định số thuế phải nộp và trực tiếp nộp cho cơ quan thuế, cơ quan thuế chỉ thực hiện công tác kiểm tra số sách kế toán của doanh nghiệp. 12 Ưu điểm thứ tư của thuế GTGT là đối tượng và phạm vi chịu thuế GTGT rất rộng. Ưu điểm này cho phép Chính phủ có thể vận dụng để khuyến khích hoạt động xuất khâu, cũng như áp dụng thuế suất vừa phải, hợp lý hơn là tăng thuế suất, một biện pháp dễ bị phê phán. * Nhược điểm.
Luật thuế GTGT ở Việt Nam giai đoạn đầu áp dụng gặp không ít khó khăn, vướng mac cần có một quá trình điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung khá vất vả.