CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ RỦI RO TÍN DỤNG, TÍN DỤNG NGẮN HẠN ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP XÂY LẮP 1. Tổng quan về tín dụng và Rủi ro tín dụng: 1. Tổng quan về tín dụng: (Nguyễn Đăng Dờn, 2009) 1. Khái niệm về tín dụng (Credits): - Tín dụng là quan hệ vay mượn, quan hệ sử dụng vốn lẫn nhau giữa người đi vay và người cho vay dựa trên nguyên tác hoàn trả.
Tín dụng được biểu hiện qua sơ đồ sau: n Cho vay vốn Chủ thể cho vay Chủ thể đi vay (Lender) (Borrower) o Hoàn trả vốn và lãi - Tín dụng là một phạm trù của kinh tế hàng hoá, có quá trình ra đời tồn tại và phát triển cùng với phát triển của kinh tế hàng hoá. - Lúc đầu các quan hệ tín dụng hầu hết là tín dụng bằng hiện vật và một phần nhỏ là tín dụng hiện kim, tồn tại dưới tên gọi là tín dụng nặng lãi. Cơ sở của quan hệ tín dụng là lúc bấy giờ chính là sự phát triển bước đầu của các quan hệ hàng hoá – tiền tệ trong điều kiện của nền sản xuất hàng hoá kém phát triển. - Các quan hệ tín dụng phát triển trong thời ký chiếm hữu nô lệ và chế độ phong kiến phản ánh thực trạng của một nền kinh tế sản xuất hàng hoá nhỏ.
Chỉ đến khi phương thức sản xuất TBCN ra đời, các quan hệ tín dụng mới có điều kiện để phát triển. Tín dụng bằng hiện vất đã nhường chỗ cho tín dụng bằng hiện kim, tín dụng nặng lãi phi kinh tế đã nhưỡng chỗ cho các loại hình tín dụng khác ưu việt hơn như tín dụng ngân hàng, tín dụng chính phủ. - Mặc dù tín dụng có một quá trình tồn tại và phát triển lâu dài qua nhiều hình TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 thái kinh tế xã hội, với nhiều hình thức khác nhau, song đều có tính chất quan trọng sau đây: + Tín dụng trước hết chỉ là sự chuyển giao quyền sử dụng một số tiền (hiện kim) hoặc tài sản (hiện vật) từ chủ thể này sang chủ thế khác, chứ không làm thay đổi quyền sở hữu chúng. + Tín dụng bao giờ cũng có thời hạn và phải được “hoàn trả”.
+ Giá trị của tín dụng không những được bảo tồn mà còn được nâng cao nhờ lợi tức tín dụng. Bản chất của tín dụng: - Bản chất của tín dụng được hiểu theo hai khía cạnh sau: + Thứ nhất: Tín dụng là hệ thống quan hệ kinh tế phát sinh giữa người đi vay và người cho vay, nhờ quan hệ ấy mà vốn tiền tệ được vận động từ chủ thể này sang chủ thể khác để sử dụng cho các nhu cầu khác nhau trong nền kinh tế xã hội. + Thứ hai: Tín dụng được coi là một số vốn, làm bằng hiện vật, hoặc bằng hiện kim vận động theo nguyên tắc hoàn trả, đã đáp ứng cho các nhu cầu của các chủ thể tín dụng. Chức năng của tín dụng: Tín dụng có ba chức năng: - Một là: Chức năng tập trung và phân phối lại vốn tiền tệ.
+ Đây là chức năng cơ bản nhất của tín dụng, nhờ các chức năng này của tín dụng mà nguồn vốn tiền tệ trong xã hội được điều hoà từ nơi “thừa” sang nơi “thiếu” để sử dụng nhằm phát triển nền kinh tế. + Tập trung và phân phối lại vốn tiền tệ là hai mặt hợp thành chức năng cốt lõi của tín dụng. + Ở mặt tập trung vốn tiền tệ: nhờ sự hoạt động của hệ thống tin dụng mà các nguồn tiền nhàn rỗi được tập trung lại, bao gồm tiền nhãn rỗi của dân chúng, vốn TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 bằng tiền của các doanh nghiệp, vốn bằng tiền của các tổ chức đoàn thể, xã hội. + Ở mặt phân phối lại vốn tiền tệ, đây là mặt cơ bản của chức năng này – đó là sự chuyển hoá để sử dụng các xuất lưu thông hàng hoá cũng như nhu cầu tiêu dùng trong toàn xã hội.
+ Cả hai mặt tập trung và phân phối lại vốn đều được thực hiện theo nguyên tắc hoàn trả vì vậy tín dụng có ưu thể rõ rệt, nó kích thích mặt tập trung vốn, nó thúc đẩy việc sử dụng vốn có hiệu qủa. + Nhờ chức năng tập trung và phân phối lại vốn tiền tệ của tín dụng, mà phần lớn nguồn tiền trong xã hội từ chỗ là tiền “nhàn rỗi” một cách tương đối đã được huy động và sử dụng cho các nhu cầu của sản xuất và đời sống, làm cho hiệu quả sử dụng vốn trong toàn xã hội tăng. - Hai là: chức năng tiết kiệm tiền mặt và chi phí lưu thông cho xã hội. + Nhờ hoạt động của tín dụng mà nó có thể phát huy chức năng tiết kiệm tiền mặt và chi phí lưu thông cho xã hội, điều này thể hiện qua các mặt sau đây: • Hoạt động tín dụng, trước hết, tạo điều kiện cho sự ra đời của các công cụ lưu thông tín dụng như thương phiếu, kỳ phiếu, ngân hàng, các loại séc, các phương tiện thanh toán hiện đại như thẻ tín dụng, thẻ thanh toán… cho phép thay thế một số lượng lớn tiền mặt lưu hành (kể cả tiền đúc bằng kim loại quý như trước đây và tiền giấy như hiện nay) nhờ đó làm giảm bớt các chi phí có liên quan như in tiền, đúc tiền, vận chuyển, bảo quản tiền v.v… • Hoạt động của tín dụng, đặc biệt là tín dụng ngân hàng, đã mở ra một khả năng lớn trong việc mở tài khoản và giao dịch thanh toán thông qua ngân hàng dưới các hình thức chuyển khoản hoặc bù trừ cho nhau.
Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của tín dụng thì hệ thống thanh toán qua ngân hàng ngày càng được mở rộng, vừa cho phép giải quyết nhanh chóng các mối quan hệ kinh tế vừa thúc đẩy quá trình ấy, tạo điều kiện cho nền kinh tế – xã hội phát triển. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 • Nhờ hoạt động của tín dụng, mà các nguồn vốn đang nằm trong xã hội được huy động để sử dụng cho các nhu cầu của sản xuất và lưu thông hàng hoá sẽ tăng tốc độ chu chuyển trong phạm vi toàn Xã Hội. - Ba là: Chức năng phản ánh và kiểm soát các hoạt động kinh tế. + Đây là chức năng phát sinh, hệ quả của hai chức năng nói trên.
+ Sự vận động của vốn tín dụng phần lớn là sự vận động gắn liền với sự vận động của vật tư, hàng hoá, chi phí trong các xí nghiệp, các tổ chức kinh tế, vì vậy tín dụng không những là tấm tương phản ánh hoạt động kinh của doanh nghiệp, mà còn thông qua đó thực hiện việc kiểm soát các hoạt động ấy nhằm ngăn chặn các hiện tượng tiêu cực lãng phí, vi phạm pháp luật, v.v… trong hoạt động SXKD của các doanh nghiệp. Vai trò của tín dụng: - Nói đến vai trò của tín dụng, nghĩa là nói đến sự tác động của tín dụng đối với nền kinh tế – xã hội. Vai trò của tín dụng bao gồm vai trò hai mặt tích cực, mặt tốt và mặt tiêu cực, mặt xấu. Chẳng hạn nếu để tín dụng phát triển tràn lan không kiểm soát, thì không những không làm cho nền kinh tế phát triển mà còn làm cho lạm phát có thể gia tăng gây ảnh hưởng đến đời sống kinh tế xã hội.
Mặt tích cực, tín dụng có vai trò to lớn sau đây: - Một là: Tín dụng góp phần thúc đẩy sản xuất lưu thông hàng hoá phát triển: • Tín dụng trước hết là nguồn cung ứng vốn cho các doanh nghiệp các tổ chức kinh tế. • Tín dụng là một trong những công cụ để tập trung vốn một cách hữu hiệu trong nền kinh tế. • Tín dụng không những là công cụ tập trung vốn mà còn là công cụ thúc đẩy tích tụ vốn cho các xí nghiệp, tổ chức kinh tế. • Có thể nói, trong mọi nền kinh tế – xã hỗi, tín dụng đều phát huy vai trò to TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 lớn nói trên của nó.
• Đối với doanh nghiệp, tín dụng góp phần cung ứng vốn bao gồm vốn cố định, vốn lưu động. • Đối với dân chúng, tín dụng là cầu nói giữa tiết kiệm và đầu tư. • Đối với toàn xã hội, tín dụng làm tăng hiệu suất sử dụng đồng vốn. • Tất cả đều hợp lực và tác động lên đời sống kinh tế – xã hội khiến tạo ra động lực phát triển rất mạnh mẽ mà không có công cụ tài chính nào có thể thay thế được.
- Hai là: Tín dụng góp phần ổn định tiền tệ, ổn định giá cả: • Trong khi thực hiện chức năng thứ nhất là tập trung và phân phối lại vốn tiền tệ, tín dụng đã góp phân làm giảm khối lượng tiền lưu hành trong nền kinh tế, đặc biệt là tiền mặt trong tay các tầng lớp dân cư, làm giảm áp lực lạm phát, nhờ vậy góp phần làm ổn định tiền tệ. Mặt khác, do cung ứng vốn tín dụng cho nền kinh tế, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp hoàn thành kế hoạch sản xuất kinh doanh… làm cho sản xuất ngày càng phát triển, sản phẩm hàng hoá dịch vụ làm ra ngày càng nhiều, đáp ứng được nhu cầu ngày càng tăng của xã hội, chính nhờ đó tín dụng góp phần làm ổn định thị trường giá cả trong nước. - Ba là: Tín dụng góp phần ổn định dời sống, tạo công ăn việc làm và ổn định trật tự xã hội • Một mặt, do tín dụng có tác dụng thúc đẩy nền kinh tế phát triển, sản xuất hàng hoá và dịch vụ ngày càng gia tăng có thể thoả mãn nhu cầu đời sống được ổn định ai cũng có công ăn việc làm…là tiền đề quan trọng ổn định trật tự xã hội. - Bốn là: Tín dụng đã góp phần phát triển các mồi quan hệ quốc tế.
• Có thể nói tín dụng còn có vai trò quan trọng để mở rộng và phát triển các mối quan hệ kinh tế đối ngoại và mở rộng giao lưu quốc tế. Sự phát triển của tín dụng không những ở trong phạm vi quốc nội mà còn mở rộng ra cả phạm vi quốc TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 tế, nhờ đó nó thúc đẩy mở rộng và phát triển các quan hệ kinh tế đối ngoại, nhằm giúp đỡ và giải quyết acc1 nhu cầu của nhau trong quá trình phát triển đi lên cảu mỗi nước, làm cho các nước có điều kiện xích lại gần nhau hơn và cùng nhau phát triển.