phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, gồm 3 chương Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về rủi ro thanh khoản ngân hàng thƣơng mại Chƣơng 2:Thực trạng quản lý rủi ro thanh khoản của một số NHTMCP tại TP.HCM Chƣơng 3:Giải pháp quản lý rủi ro thanh khoản của một số NHTMCP tại TP.HCM LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ RỦI RO THANH KHOẢN NGÂN HÀNG 1.1 Thanh khoản của ngân hàng 1.1 Khái niệm thanh khoản Theobộ quy tắc về quản trị rủi ro thanh khoản và giám sát của Basel (tháng 9/2008), “Thanh khoản là khả năng của ngân hàng vừa có thể tăng thêm tài sản vừa đáp ứng các nghĩa vụ nợ khi đến hạn mà không bị những thiệt hại quá mức cho phép”. Theo Mathias Drehmann, Kleopatra Nikolaou (2009), khả năng thanh khoản là khả năng giải quyết các nghĩa vụ hay sắp xếp nguồn tài trợ cho thanh khoản tức thời. Do đó, một ngân hàng thanh khoản kém nếu nó không thể giải quyết các nghĩa vụ kịp thời. Thanh khoản cũng có thể được định nghĩa là khả năng tiếp cận các khoản tài sản hoặc nguồn vốn có thể dùng để chi trả với chi phí hợp lý ngay khi nhu cầu vốn phát sinh.
Trong đó, một nguồn vốn được gọi là có tính thanh khoản cao khi chi phí huy động thấp và thời gian huy động nhanh, một tài sản được gọi là có tính thanh khoản cao khi chi phí chuyển hóa thành tiền thấp và có khả năng chuyển hóa ra tiền nhanh. Như vậy, một ngân hàng được xem là có khả năng thanh khoản tốt nếu như nó có thể có được những khoản vốn khả dụng với chi phí thấp đúng tại thời điểm ngân hàng có nhu cầu.Hay nói cách khác, một ngân hàng có khả năng thanh khoản tốt khi ngân hàng có lượng vốn khả dụng với quy mô hợp lý hoặc ngân hàng có thể nhanh chóng huy động vốn thông qua vay nợ hay bán tài sản.2 Đo lƣờng thanh khoản Theo lý thuyết về quản trị ngân hàng thương mại của Peter S.Rose: Trạng thái thanh khoản của một ngân hàng được xác định thông qua mô hình cung – cầu thanh khoản. Cung thanh khoản là những khoản vốn làm tăng khả năng chi trả của ngân hàng, là nguồn cung cấp thanh khoản cho ngân hàng.Cầu thanh khoản là nhu cầu vốn cho các hoạt động của ngân hàng, các khoản làm giảm ngân quỹ của ngân hàng. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 - Cung thanh khoản gồm: Tiền gửi của khách hàng, các khoản thu từ dịch vụ, thanh toán nợ của khách hàng, bán tài sản, vay mượn từ thị trường tiền tệ,… - Cầu thanh khoản gồm: Khách hàng rút tiền từ tài khoản, cấp tín dụng cho khách hàng, chi phí phát sinh khi kinh doanh các sản phẩm dịch vụ, hoàn trả các khoản vay mượn từ thị trường tiền tệ, chi trả cổ tức,… Trạng thái thanh khoản ròng (Net Liquidity Position): Trạng thái thanh khoản ròng NLP (net liquidity position) của một ngân hàng được xác định như sau: NLP = Tổng cung về thanh khoản - Tổng cầu về thanh khoản Trạng thái thanh khoản ròng có thể xảy ra theo ba khả năng sau: - Thặng dư thanh khoản, khi cung thanh khoản vượt quá cầu thanh khoản (NLP>0), ngân hàng đang ở trạng thái thặng dư thanh khoản.
Nhà quản trị ngân hàng phải cân nhắc đầu tư số vốn thặng dư này vào đâu để mang lại hiệu quả cho tới khi chúng cần được sử dụng đáp ứng nhu cầu thanh khoản trong tương lai. - Thâm hụt thanh khoản,khi cầu thanh khoản lớn hơn cung thanh khoản (NLP<0), ngân hàng phải đối mặt với tình trạng thâm hụt thanh khoản. Nhà quản trị phải xem xét, quyết định nguồn tài trợ thanh khoản lấy từ đâu, bao giờ thì có và chi phí bao nhiêu. - Cân bằng thanh khoản, khi cung thanh khoản cân bằng với cầu thanh khoản (NLP=0), tình trạng này được gọi là cân bằng thanh khoản.
Tuy nhiên, đây là tình trạng rất khó xảy ra trên thực tế.2 Rủi ro thanh khoản của ngân hàng thƣơng mại Theo quan điểm truyền thống, rủi ro là những thiệt hại, mất mát, nguy hiểm hoặc các yếu tố khác liên quan đến nguy hiểm, khó khăn, hoặc điều không chắc chắn có thể xảy ra cho con người.Xã hội loài người càng phát triển, hoạt động của con người càng đa dạng, thì nhiều loại rủi ro mới phát sinh. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 Theo quan điểm trung hoà, rủi ro là sự không chắc chắn, một tình trạng bất ổn hay biến động tiềm ẩn ở kết quả. Tuy nhiên, không phải sự không chắc chắn nào cũng là rủi ro. Chỉ có những tình trạng không chắc chắn nào có thể đoán được xác suất xảy ra mới được xem là rủi ro.
Những tình trạng không chắc chắn nào chưa từng xảy ra và không thể ước đoán được xác suất xảy ra được xem là sự bất trắc chứ không phải là rủi ro. Hay nói cách khác, rủi ro là sự bất trắc có thể đo lường được. Rủiro vừa mang tính tích cực, vừa mang tính tiêu cực, rủi ro có thể mangđến cho con người những tổn thất, mất mát, nguy hiểm, nhưng cũng có thể mangđến những cơ hội, thời cơ không ngờ. Rủi ro trong kinh doanh ngân hàng là những biến cố không mong đợi mà khi xảy ra sẽ dẫn đến sự tổn thất về tài sản của ngân hàng, giảm sút lợi nhuận thực tế so với dự kiến hoặc phải bỏ ra thêm một khoản chi phí để có thể hoàn thành được một nghiệp vụ tài chính nhất định.
Theo Nguyễn Văn Tiến (2005), một số rủi ro mà ngân hàng hiện đại phải đối mặt: - Rủi ro lãi suất; - Rủi ro ngoại hối; - Rủi ro tín dụng; - Rủi ro thanh khoản; - Rủi ro hoạt động ngoại bảng; - Rủi ro công nghệ và hoạt động; - Rủi ro quốc gia và rủi ro khác.1 Khái niệm rủi ro thanh khoản Rủi ro thanh khoản là loại rủi ro xuất hiện trong trường hợp ngân hàng thiếu khả năng chi trả, không chuyển đổi kịp các loại tài sản ra tiền mặt hoặc không thể vay mượn để đáp ứng yêu cầu của các hợp đồng thanh toán.Hay nói cách khác, ngân hàng có thể không thanh toán được các nghĩa vụ nợ tức thời. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Theo Basel (2008): Rủi ro thanh khoản là rủi ro mà một định chế tài chính không đủ khả năng tìm kiếm đầy đủ nguồn vốn để đáp ứng các nghĩa vụ đến hạn mà không làm ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh hàng ngày và cũng không gây tác động đến tình hình tài chính. Như vậy, rủi ro thanh khoản xảy ra khi ngân hàng không thể tìm đủ nguồn tiền để chi trả hoặc tìm được với chi phí cao. Rủi ro thanh khoản là loại rủi ro thường trực mà bất kỳ ngân hàng nào cũng có thể gặp phải, bởi với vai trò cơ bản của ngân hàng là sử dụng những khoản tiền gửi ngắn hạn để cho vay với kỳ hạn dài hơn nên luôn tạo ra sự chênh lệch về kỳ hạn của dòng vốn.
Và chính điều này đãlàm cho ngân hàng vốn đã dễ bị tổn thương trước các tác động mạnh từ thị trường lại càng có nguy cơ lâm vào tình trạng kém thanh khoản và khi đó rủi ro thanh khoản xuất hiện. Mối liên hệ giữa rủi ro thanh khoản với các rủi ro khác: Rủi ro thanh khoản có mối liên hệ mật thiết với các loại rủi ro khác. Rủi ro thanh khoản thường là hệ quả của nhiều rủi ro khác.Bất kỳ một loại rủi ro nào khi xảy ra đều có nguy cơ gây ra rủi ro thanh khoản nếu rủi ro đó không được kiểm soát và xử lý tốt.Chẳng hạn, khi một ngân hàng cho vay không thu hồi được nợ, ngân hàng đang gặp phải rủi ro tín dụng. Đến hạn thanh toán cho khách hàng gửi tiền, ngân hàng không có đủ nguồn để trả do trước đó đã cho vay nhưng không thu hồi được, nguồn vốn bị ứ đọng, ngân hàng có nguy cơ mất thanh khoản (rủi ro thanh khoản xuất hiện).
Ngoài ra, rủi ro thanh khoản mang tính thường nhật, thường xảy ra hàng ngày đối với hoạt động ngân hàng. Trong khi một số rủi ro khác xảy ít thường xuyên hơn, mà chỉ xảy ra khi có biến động của thị trường như rủi ro lãi suất, rủi ro thị trường,….2 Nguyên nhân dẫn đến rủi ro thanh khoản Theo Peter S.Rose (2001), rủi ro thanh khoản xảy ra đối với ngân hàng do một số nguyên nhân sau: Thứ nhất, ngân hàng huy động một lượng lớn tiền gửi và dự trữ ngắn hạn từ cá nhân, doanh nghiệp và các tổ chức cho vay khác để sau đó chuyển chúng thành các khoản tín dụng dài hạn cho những người đi vay. Do vậy, hầu hết các ngân hàng đều phải đối mặt LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 với sự mất cân đối giữa kỳ hạn của tài sản và kỳ hạn của các nguồn vốn. Rất hiếm khi dòng tiền từ tài sản của ngân hàng cân đối hoàn toàn với dòng tiền cần thiết để đáp ứng việc thanh toán các nguồn vốn huy động.
Do vậy, sự tăng trưởng tín dụng quá nhanh trong một thời gian ngắn hoặc sự giảm sút mạnh của lượng tiền huy động cũng là nguy cơ dẫn đến rủi ro thanh khoản cho ngân hàng. Thứ hai, ngân hàng rất nhạy cảm trước những thay đổi của lãi suất.Khi lãi suất đầu tư tăng, một số người gửi tiền rút vốn khỏi ngân hàng đểđầu tư vào nơi có tỷ suất sinh lợi cao hơn; còn những người đi vay tích cực tiếp cậncác khoản tín dụng vì lãi suất đã thấp hơn trước.Như vậy, những thay đổi trong lãi suất tác động đồng thời đến nhu cầu gửi tiền và nhu cầu vay và cả hai điều này đều gây ra những tác động lớn đến trạng thái thanh khoản của ngân hàng. Hơn nữa, những xu hướng củasự thay đổi lãi suất còn ảnh hưởng đến giá trị thị trường của các tài sản mà ngânhàng có thể đem bán để tăng thêm nguồn cung thanh khoản và trực tiếp ảnh hưởngđến chi phí vay mượn trên thị trường tiền tệ.