phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, Luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Những vấn đề cơ bản về quản lý rủi ro tác nghiệp của Ngân hàng thƣơng mại Chƣơng 2: Thực trạng quản lý rủi ro tác nghiệp tại BIDV - chi nhánh Hà Tĩnh Chƣơng 3: Giải pháp hoàn thiện quản lý rủi ro tác nghiệp tại BIDV - chi nhánh Hà Tĩnh 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ RỦI RO TÁC NGHIỆP TRONG HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG 1. Ngân hàng thƣơng mại và hoạt động kinh doanh của NHTM 1. Ngân hàng thương mại Ngân hàng là một tổ chức kinh doanh đặc biệt trong nền kinh tế. Nó đặc biệt vì nhiều lý do khác nhau, nhƣng lý do quan trọng nhất là loại hàng hoá chủ yếu mà nó kinh doanh là loại hàng hoá đặc biệt: Tiền tệ.
Trong nền kinh tế thị trƣờng, ngân hàng đƣợc gọi là một loại trung gian tài chính theo nghĩa là đơn vị chuyển những khoản tiết kiệm của tổ chức, cá nhân (có tiền nhàn rỗi hoặc tạm thời nhàn rỗi trong một khoảng thời gian gửi vào ngân hàng để sinh lời hoặc vì mục đích an toàn hoặc để sử dụng các dịch vụ, tiện ích ngân hàng khác) sang cho các cá nhân, đơn vị cần tiền để hoạt động. ả n 3, điề u 4 Luậ t các Tổ chức tín dụng (luậ t số /2010/ QH12) nêu rõ: “Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận”. Trong đó, Tổ ứ c tín dụ là doanh nghiệ p đư ợ c thành lậ p theo quy đị nh củ a Luậ t này và các quy đị nh khác củ a pháp luậ t để hoạ t độ ng kinh doanh tiề n tệ , làm dị ch vụ ngân hàng vớ i các nộ i dung nhậ n tiề n gử i và sử dụ ng tiề n gử i để cấ p tín dụ ng và thự c hiệ n các dị ch vụ thanh toán. ư ậ y, có thể nói ngân hàng là mộ t đị ế ài chính trung gian quan trọ ào loạ ậ ấ ề kinh tế ị ườ ờ ệ ố ng đị ế ày mà các nguồ ề àn rỗ ẽ đư ợ c huy độ ạ ậ ồ ố n tín dụ ớ n để có thể à phát triể ế 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Hoạt động kinh doanh của NHTM Tuỳ vào luật pháp của từng quốc gia và theo từng thời kỳ, NHTM thực hiện các hoạt động kinh doanh với mục đích chủ yếu là tạo ra lợi nhuận. Một cách tổng quát, hoạt động kinh doanh của NHTM là việc cung cấp các “dịch vụ nhằm đáp ứng các nhu cầu về tài chính của khách hàng gồm” [21]: - Dịch vụ tiền gửi và tiết kiệm - Cho vay và đầu tƣ dự án - Dịch vụ chuyển tiền và thanh toán - Các dịch vụ tài chính và tƣ vấn - Các dịch vụ ngân hàng quốc tế - Các dịch vụ khác nhƣ bảo quản vật có giá, cho thuê két … 1. Rủi ro tác nghiệp trong hoạt động ngân hàng 1. Khái niệm rủi ro Cụm từ “rủi ro” đƣợc các nhà kinh tế định nghĩa theo nhiều cách khác nhau.
Nhƣng nhìn chung có thể chia làm hai quan điểm. Theo quan điểm truyền thống, “ Rủi ro là những thiệt hại, mất mát, nguy hiểm hoặc các yếu tố khác liên quan đến nguy hiểm, khó khăn, hoặc điều không chắc chắn có thể xảy ra cho con ngƣời”. Thực tế cho thấy, chúng ta đang sống trong một thế giới mà rủi ro luôn tiềm ẩn và ngày càng tăng theo nhiều hƣớng khác nhau. Xã hội loài ngƣời càng phát triển, hoạt động của con ngƣời ngày càng đa dạng, phong phú và phức tạp, thì rủi ro cho con ngƣời ngày càng nhiều và đa dạng hơn.
Vì vậy, con ngƣời cần quan tâm nhiều hơn đến việc nghiên cứu rủi ro, nhận diện rủi ro và tìm các biện pháp QLRR, trong quá trình nghiên cứu đó nhận thức về rủi ro của con ngƣời cũng thay đổi, trở nên khoan dung và trung hòa hơn. Theo quan điểm trung hòa cho rằng “Rủi ro là sự bất trắc không thể đo lƣờng đƣợc”. Rủi ro vừa mang tính tích cực vừa mang tính tiêu cực, theo nghĩa rủi ro có thể mang đến cho con ngƣời những tổn thất, mất mát và nguy hiểm nhƣng cũng có thể mang đến cho chúng ta những cơ hội, thời cơ không ngờ. Nếu tích cực nghiên cứu rủi ro, nhận diện rủi ro, đo lƣờng rủi ro, quản lý rủi ro, chúng ta không 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chỉ tìm ra đƣợc những biện pháp phòng ngừa, né tránh những rủi ro thuần túy, hạn chế những thiệt hại do rủi ro gây ra mà còn có thể “lật ngƣợc tình thế”, biến thủ thành thắng, biến thách thức thành những cơ hội mang lại kết quả tốt đẹp trong tƣơng lai.
Lợi nhuận Rủi ro Hình 1.1: Rủi ro càng lớn thì tỷ suất lợi nhuận càng cao 1. Phân loại rủi ro Rủi ro trong hoạt động kinh doanh của NHTM Việt Nam đƣợc chia thành nhiều loại khác nhau tùy theo mục đích nghiên cứu. Nhƣng tựu chung có 4 loại rủi ro cơ bản sau: - Rủi ro tín dụng: Theo định nghĩa của Ngân hàng Thế giới (The World Bank), rủi ro tín dụng (credit risk) là nguy cơ mà ngƣời đi vay không thể chi trả tiền lãi, hoặc hoàn trả vốn gốc so với thời hạn đã ấn định trong hợp đồng tín dụng. Đây là thuộc tính vốn có trong hoạt động ngân hàng.
Rủi ro tín dụng tức là việc chi trả bị trì hoãn, hoặc tồi tệ hơn là không hoàn trả đƣợc toàn bộ. Điều này gây ra sự cố đối với dòng chu chuyển tiền tệ, và gây ảnh hƣởng tới khả năng thanh khoản của ngân hàng. - Rủi ro thị trường: Rủi ro thị trƣờng trong hoạt động ngân hàng là rủi ro tiềm ẩn gây ra tác đ ộng tiêu cƣ̣c đố i với thu nhâ ̣p hoă ̣c vố n của NHTM do nhƣ̃ng biế n đô ̣ng bấ t lơ ̣i của các yế u tố trên thi ̣trƣờng nhƣ : lãi suất, tỷ giá , giá chứng khoán , giá hàng hóa. Ngân hàng không thể tác động làm thay đổi các yếu tố nà y, mà chỉ có thể dự báo xu hƣớng, tính toán mức độ ảnh hƣởng để từ đó đƣa ra các biện pháp chủ động điều chỉnh quy mô , cơ cấ u tài sản có , sao cho ha ̣n chế thấ p nhấ t tổ n thấ t có thể xảy ra 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thông qua viê ̣c kế t hơ ̣p mô hin ̀ h hiê ̣n đa ̣i trong viê ̣c ƣớc lƣơ ̣ng rủi ro laĩ suấ t và sƣ̉ dụng linh hoạt các công cụ tài chính phái sinh.
- Rủi ro thanh khoản: Rủi ro thanh khoản là những tổn thất xảy ra đối với ngân hàng khi có nhu cầu thanh khoản thực tế vƣợt mức dự kiến, hay nói cách khác, ngân hàng không đáp ứng nhu cầu thanh toán hay rút tiền của khách hàng. - Rủi ro tác nghiệp: RRTN là loại rủi ro dẫn đến tổn thất (trực tiếp hoặc gián tiếp) xảy ra do quy trình nghiệp vụ, do con ngƣời hoặc do hoạt động của hệ thống nội bộ bị lỗi, không phù hợp hoặc do tác động của các sự kiện bên ngoài. Nhà kinh tế học Mỹ đồng thời là Chủ tịch Hội đồng Thống đốc Cục Dự trữ Liên bang Hoa Kỳ từ 1987 đến 2006 – ông Alan Greenspan cho rằng ngân hàng cần chứ không cần giảm thiểu rủi ro đến 0, ý ông chỉ muốn đề cập đến rủi ro thị trƣờng và rủi ro tín dụng là những loại rủi ro cần chấp nhận (phi rủi ro bất lợi nhuận), còn rủi ro thanh khoản và rủi ro tác nghiệp cần tối thiểu hóa đến mức triệt tiêu nó. Các chuyên gia ngân hàng nƣớc ngoài nhận xét: Trong các loại rủi ro các ngân hàng Việt Nam chƣa chú trọng đúng mức đến rủi ro hoạt động (tác nghiệp) và các biện pháp khống chế nó.
Rủi ro tác nghiệp trong hoạt động kinh doanh ngân hàng 1. Khái niệm về rủi ro tác nghiệp Sau nhiều sự cố RRTN tại nhiều ngân hàng trên thế giới những năm 1992 - 1995, các chuyên gia ngân hàng đã nhận thấy rằng rủi ro tín dụng và rủi ro thị trƣờng không bao hàm hết rủi ro mà ngân hàng phải đối mặt, các rủi ro do lừa đảo, trộm cắp, lỗi hệ thống thông tin hay do cán bộ ngân hàng thực hiện công việc đƣợc giao, … do đó, năm 1999 khi Ủy ban Basel đƣa ra Hiệp ƣớc mới (Hiệp ƣớc Basel II) thay thế cho Hiệp ƣớc cũ trong đó đã đề cập đến khái niệm về RRTN và cho đến nay vẫn chƣa có một định nghĩa thống nhất nào. RRTN có thể đƣợc coi là mọi loại hình rủi ro không định lƣợng đƣợc hay tất cả các rủi ro trừ rủi ro thị trƣờng, rủi ro tín dụng và rủi ro thanh khoản 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Định nghĩa đƣợc xem là rộng và chung nhất là định nghĩa của Ủy ban Basel về Giám sát ngân hàng trong Hiệp ƣớc vốn mới của Basel (2001), theo đó, rủi ro tác nghiệp là nguy cơ xảy ra tổn thất trực tiếp hay gián tiếp do các quy trình, con người và hệ thống nội bộ không đạt yêu cầu hoặc thất bại hay do các sự kiện bên ngoài gây ra. RRTN bao gồm: gian lận của nhân viên, các vụ trộm, lỗi hệ thống, mất điện, lũ lụt, hoặc các lý do khác dẫn đến các sai sót ở một ngân hàng mà không thể phân loại vào các rủi ro khác.
RRTN cũng bao gồm cả rủi ro tuân thủ. Rủi ro tuân thủ là rủi ro tiềm ẩn ảnh hƣởng đến thu nhập và vốn phát sinh do việc không tuân thủ pháp luật, quy định, quy chế, thông lệ tốt, chính sách và quy trình nội bộ hoặc các chuẩn mực đạo đức khác.