CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ RỦI RO THEO HIỆP ƯỚC BASEL TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ CÁC NỘI DUNG THEO CHUẨN CỦA HIỆP ƯỚC BASEL 1. Hiệp ước Basel trong quản lý rủi ro tại Ngân hàng thương mại 1. Tóm lược quá trình hình thành và phát triển của các hiệp ước Basel Hiệp ước Basel I: - Hiệp ước Basel I (the Basel Capital Accord) đầu tiên được ban hành năm 1988 và có hiệu lực từ năm 1992 đưa ra những nguyên tắc cơ bản cung cấp khung đo lường rủi ro tín dụng với tiêu chuẩn vốn tối thiểu 8%. - Thoả ước này sau đó được cập nhật lại năm 1996 bổ sung thêm rủi ro thị trường (được thực thi chậm nhất vào ngày 1/1/1998) và mở rộng một số khía cạnh khác.
Tuy vậy vẫn còn khá nhiều hạn chế mà điển hình là không đề cập đến một loại rủi ro đang ngày càng trở nên phức tạp, đó là rủi ro vận hành (không có yêu cầu vốn dự phòng rủi ro vận hành). - Đến năm 1999, Ủy ban đã đề ra 25 nguyên tắc cơ bản về giám sát ngân hàng, đây là những nguyên tắc tối thiểu và được xem là tài liệu để các cơ quan thanh tra, giám sát ngân hàng và các nhà quản lý tài chính tham khảo. Tháng 6/1999, đề xuất một khung Hiệp ước vốn mới với chương trình tư vấn lần thứ nhất (First Consultative Package - CP1), đến tháng 1/2001, chương trình tư vấn lần thứ hai (CP2) và đến tháng 4/2003, chương trình tư vấn lần thứ ba (CP3). Sau đó đến Quý 4/2003, phiên bản mới của Hiệp ước vốn (Basel II) được hoàn thiện.
Hiệp ước Basel II: - Ngày 26/06/2004, bản Hiệp ước quốc tế về vốn mới Hiệp ước Basel II (The new capital accord) chính thức được ban hành có hiệu lực từ tháng 1/2007 với một loạt các chuẩn mực giám sát nhằm hoàn thiện các kỹ thuật quản lý rủi ro và được cấu trúc theo 3 mức: TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 + Trụ cột I (Pillar I): Quy định yêu cầu tỷ lệ vốn tối thiểu đối với rủi ro tín dụng, rủi ro thị trường và rủi ro hoạt động trên cơ sở kế thừa Hiệp ước Basel I. + Trụ cột II (Pillar II): Đưa ra các hướng dẫn liên quan đến quá trình giám sát ngân hàng. + Trụ cột III (Pillar III): Yêu cầu Ngân hàng cung cấp các thông tin cơ bản liên quan đến vốn, rủi ro để đảm bảo khuyến khích các nguyên tắc thị trường. - Qua cuộc khủng hoảng tài chính năm 2007-2009, Hiệp ước Basel II đã bộc lộ một số yếu điểm, vì vậy với nỗ lực ngăn chặn sự tái diễn của cuộc khủng hoảng tài chính thế giới phát sinh nhu cầu phải cho ra đời một phiên bản Hiệp ước Basel III mới phù hợp hơn để đối phó với khủng hoảng.
Hiệp ước Basel III - Ngày 12/09/2010, Hiệp định Basel III với những quy định nghiêm ngặt hơn dành cho các ngân hàng thuộc 27 thành viên (gồm Argentina, Australia, Bỉ, Brazil, Canada, Trung Quốc, Pháp, Đức, Hong Kong, Ấn Độ, Indonesia, Italia, Nhật, Hàn Quốc, Luxembourg, Mexico, Hà Lan, Nga, Ảrập Xêút, Singapore, Nam Phi, Tây Ban Nha, Thụy Điển, Thụy Sỹ, Thổ Nhĩ Kỳ, Anh và Mỹ) đã được Ủy ban Giám sát ngân hàng Basel ban hành với mốc thời gian triển khai thực hiện là từ ngày 1/1/2013 và triển khai đầy đủ vào năm 2019. Các nội dung cơ bản của Hiệp ước Basel về QLRR tại Ngân hàng thương mại 1. Hiệp ước Basel I Hiệp ước Basel I nhấn mạnh tầm quan trọng của tỷ lệ vốn an toàn trong hoạt động ngân hàng. Basel I chia vốn làm 2 loại: + Vốn cơ bản/Vốn cấp 1 (core capital – basic equity/tier 1) bao gồm: Vốn cổ phần thường, Lợi nhuận bổ sung hàng năm, TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 Quỹ dự trữ (các khoản dự trữ công khai).
+ Vốn bổ sung/Vốn cấp 2 (supplementary capital/tier 2) gồm: Các khoản dự trữ không công khai ( undisclosed reserves), Nguồn giá trị tăng thêm khi đánh giá lại tài sản (asset revaluation reserves), Dự phòng chung (general provisions) hay dự phòng chung về tổn thất tín dụng (general loan – loss reserves), Các công cụ có khả năng chuyển đổi thành cổ phiếu (hybrid debt capital instruments), Các khoản nợ thứ cấp có kỳ hạn (subordinated term debt): các trái phiếu có đặc điểm lai giữa trái phiếu và cổ phiếu với thời hạn không dưới 7 năm, - Tổng vốn cấp 1 và vốn cấp 2 chính là vốn tự có của TCTD. - Dựa vào cách tính vốn tự có như trên, nhằm bảo vệ người gửi tiền trước những rủi ro của NH và tăng tính ổn định, hiệu quả của hệ thống tài chính NH, Hiệp ước Basel I đã đưa ra chỉ tiêu tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu (CAR - Capital Adequacy Ratios). Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu là một thước đo độ an toàn vốn của ngân hàng. Nó được tính theo tỉ lệ phần trăm vốn tự có so với tổng tài sản có quy đổi rủi ro.1) Với tài sản có quy đổi rủi ro được xác định theo phương trình (1.2) RWA = TSC nội bảng * Hệ số rủi ro + TS ngoại bảng * Hệ số chuyển đổi* Hệ số rủi ro (1.2) Theo yêu cầu của Hiệp ước Basel I thì tỷ lệ vốn cấp 1 trên tổng tài sản có quy đổi rủi ro phải ít nhất là 4% và tỷ lệ này cho tổng vốn không dưới 8%.
Ngoài ra, hiệp ước Basel I còn xác định hệ số rủi ro (risk weights) trong các loại rủi ro tín dụng, rủi ro hoạt động. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 Hạn chế của Hiệp ước Basel I là chưa phân loại rủi ro chi tiết cho các khoản vay (hệ số rủi ro chưa chi tiết theo rủi ro đối tác, theo đặc điểm của khoản tín dụng), chưa tính đến các rủi ro khác như rủi ro quốc gia, rủi ro ngoại hối…. Để khắc phục những hạn chế đó Hiệp ước Basel II đã cải tiến một số nội dung nhằm tạo ra một bước hoàn thiện hơn trong xác định tỷ lệ an toàn vốn nhằm khắc phục các hạn chế của Hiệp ước Basel I và khuyến khích các Ngân hàng thực hiện các phương pháp QLRR tiên tiến hơn. Hiệp ước Basel II Hình 1.1: Nội dung Hiệp ước Basel II Nguồn: Basel II: A global regulatory framework for more resilient banks and banking systems December 2010 ( Rev June 2011) TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 Hiệp ước Basel II (The new capital accord) vẫn quy định tỷ lệ vốn tự có trên tổng tài sản có quy đổi rủi ro tối thiểu là 8%, trong đó vốn cấp 2 không vượt quá 100% so với vốn cấp 1.
Ngoài ra còn mở rộng thêm vốn cấp 3 bao gồm các khoản nợ thứ cấp để bù đắp riêng cho rủi ro thị trường (Short-term subordinated debt covering market risk). Nếu như ở Hiệp ước Basel I các nhà quản lý NH chỉ quan tâm đến rủi ro tín dụng và rủi ro thị trường thì qua Basel II có mở rộng thêm phần vốn cho rủi ro vận hành, vì vậy có sự thay đổi trong cách tính ở mẫu số. Theo đó, mẫu số bao gồm tổng tài sản có rủi ro điều chỉnh đối với rủi ro tín dụng, rủi ro thị trường và rủi ro vận hành như phương trình (1.3) Phần mẫu TSC rủi ro được xác định bằng cách lấy nhu cầu vốn đối với rủi ro thị trường và rủi ro hoạt động nhân với 12.5 (tức là nghịch đảo của tỷ lệ vốn tối thiểu 8%) cộng với kết quả tính toán của tài sản có rủi ro xét đối với rủi ro tín dụng. Hiệp ước Basel II có những quy định cụ thể hơn trong việc đánh giá các mức độ rủi ro qua các công thức tính toán chi tiết và phức tạp về nhu cầu vốn cho từng loại rủi ro.
Nhờ đó việc đánh giá mức độ an toàn vốn cũng đảm bảo hơn Hiệp ước Basel I. Phần sau sẽ trình bày việc tính toán tổng mức vốn yêu cầu tối thiểu đối với từng loại rủi ro tín dụng, rủi ro thị trường và rủi ro hoạt động theo Hiệp ước Basel II. Đối với rủi ro tín dụng (Credit Risk) Để đo lường, tính toán nhu cầu vốn cho rủi ro tín dụng, Uỷ ban Basel cho phép các Ngân hàng lựa chọn một trong ba cách. Cách thứ nhất, sử dụng phương pháp tiếp cận tiêu chuẩn SA (The Standardised Approach) dựa vào đánh giá của những tổ chức xếp hạng tín dụng độc lập.
Cách thứ hai, sử dụng đánh giá xếp hạng TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 tín dụng nội bộ IRB (The Internal Ratings-Based Approach) của chính Ngân hàng. Cách thứ ba, sử dụng phương pháp đánh giá nội bộ nâng cao. Trong phạm vi đề tài, chỉ giới thiệu sơ lược 2 cách đầu tiên. Phương pháp chuẩn SA (The Standardised Approach) Hiệp ước Basel II phân các khoản vay thành các nhóm: cho vay quốc gia, cho vay các ngân hàng, cho vay các doanh nghiệp, các khoản cho vay theo danh mục bán lẻ, cho vay bảo đảm bằng bất động sản, các khoản vay quá hạn, các khoản vay có mức độ rủi ro cao,…Các NH căn cứ vào kết quả xếp hạng của các tổ chức xếp hạng tín nhiệm độc lập, sẽ đưa ra trọng số rủi ro cho từng nhóm dựa trên quy định của Hiệp ước Basel II (Phụ lục 1: Trọng số rủi ro của tài sản có theo cách tiếp cận tiêu chuẩn đối với rủi ro tín dụng theo Hiệp ước Basel II) Theo cách này, việc xác định trọng số rủi ro phụ thuộc chủ yếu vào việc xếp hạng của các tổ chức xếp hạng độc lập.
Vì vậy để kiểm soát, quản lý các tổ chức xếp hạng độc lập thì Hiệp ước Basel cũng đưa ra một số tiêu chuẩn như tính khách quan, tính độc lập, tính minh bạch…để làm tiêu chuẩn đánh giá, công nhận một tổ chức đánh giá độc lập (Phụ lục 2: Tiêu chí đánh giá các tổ chức xếp hạng tín dụng độc lập theo cách tiếp cận tiêu chuẩn đối với rủi ro tín dụng theo Hiệp ước Basel II). Trách nhiệm công nhận một tổ chức xếp hạng độc lập thuộc về cơ quan giám sát ngân hàng. Phương pháp dựa vào đánh giá nội bộ IRB (International Ratings- Based approach) Theo cách tiếp cận dựa vào đánh giá nội bộ IRB, yêu cầu về vốn không còn dựa vào trọng số rủi ro theo kết quả xếp hạng của các tổ chức xếp hạng tín dụng độc lập bên ngoài mà được tính bằng cách sử dụng các công thức xuất phát từ mô hình rủi ro tín dụng tiên tiến sử dụng các tham số rủi ro được bản thân ngân hàng ước tính. Các tham số rủi ro chính được sử dụng trong cách tiếp cận này được tóm tắt trong bảng dưới.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.