phần Mở đầu; Kết luận và khuyến nghị; Tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương: Chƣơng 1. Cơ sở lí luận về quản lý phát triển NLDHPH cho GVTH theo hướng NCBH. Thực trạng quản lý phát triển NLDHPH cho GVTH huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh theo hướng NCBH. Biện pháp quản lý phát triển NLDHPH cho GVTH huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh theo hướng NCBH.
6 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC DẠY HỌC PHÂN HÓA CHO GIÁO VIÊN TIỂU HỌC THEO HƢỚNG NGHIÊN CỨU BÀI HỌC 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các công trình nghiên cứu về hoạt động nghiên cứu bài học tại tổ chuyên môn và quản lý hoạt động nghiên cứu bài học tại tổ chuyên môn Từ thế kỷ thứ 19, nghiên cứu bài học được phát triển tại Nhật Bản như một chỉ dẫn cho phương pháp dạy nâng cao. Cuối những năm 1990, Sato và những đồng nghiệp pháp triển nghiên cứu bài học cho cộng đồng học, một phương pháp để nghiên cứu bài học là thu hút những học viên và những nhà nghiên cứu ở Nhật (Ose và Sato 2000, 2003, Sato 1996, 2006, 2007).
Với hy vọng rằng giáo dục tốt hơn sẽ mang đến những người lao động tốt hơn nhưng nhân tố làm gián đoạn các lớp học là thời điểm cuối thời kỳ bùng nổ kinh tế và bắt đầu sự suy thoái kinh tế. Cho tới khi trẻ con mong muốn học hành chăm chỉ, chỉ bởi hi vọng rằng giáo dục tốt hơn sẽ mang đến những người lao động tốt hơn. Tuy nhiên suy thoái kinh tế đã dẫn đến nhiều nhân viên bị sa thải, từ đó rất nhiều trẻ em mất đi niềm yêu thích với học hành. Nhiều vấn nạn xảy ra: học sinh nói chuyện riêng hoặc ngủ gật thường xuyên diễn ra trong lớp học của những giáo viên độc đoán, những bài giảng của họ dựa trên những bài giảng truyền thống, một chiều.
Sato tuyên bố rằng vấn đề nghiêm trọng hơn là đa số học sinh Nhật Bản đã đánh mất đi niềm yêu thích trong học tập. Để thay đổi hoàn cảnh đó, Sato và những đồng nghiệp giới thiệu nghiên cứu bài học cho nhóm học thì không chỉ có vài bộ môn mà tất cả các giáo viên cần tham gia và họ cần tập trung nhiều hơn việc quan sát và phản ánh [21]. Nghiên cứu bài học được miêu tả như quá trình bao gồm những bước sau: (1) Cùng nhau lên kế hoạch nghiên cứu bài học; (2) thực hiện nghiên cứu bài học, thảo luận về nghiên cứu bài học; (3) xem xét lại kế hoạch đề ra (không bắt buộc); (4) giảng dạy theo bài học mẫu (không bắt buộc); (5) chia sẻ những đánh giá về mẫu 7 bài học ôn tập Vũ Thị Sơn, Nguyễn Duân, 2010, “Nghiên cứu bài học”- một cách tiếp cận năng lực nghề nghiệp của giáo viên [48]. Sự phát triển chuyên môn của giáo viên là một hoạt động đại diện của đổi mới giáo dục.
Gần đây, trong lĩnh vực phát triển chuyên môn, NCBH đã thu hút được sự quan tâm của các nhà giáo dục và học giả trên toàn thế giới, trong đó có Hoa Kì; Vương quốc Anh và Úc. NCBH là một hoạt động phát triển chuyên môn có nguồn gốc ở Nhật Bản vào thế kỷ XIX. Nó đã được mô tả trong nhiều tài liệu quốc tế là một quá trình gồm những bước sau: (1) Hợp tác lập kế hoạch một bài học; (2) Quan sát việc thực hiện một bài học; (3) Thảo luận về bài học; (4) Sửa đổi kế hoạch bài học (tùy chọn); (5) Dạy các phiên bản sửa đổi của bài học (tùy chọn); (6) Chia sẻ ý kiến và quan điểm về các phiên bản sửa đổi của bài học (Fernandez và Yoshida, 2004). Nhiều nhà giáo dục và nhà nghiên cứu đã quan tâm đến NCBH nhận ra rằng nó dần dần sẽ giúp thay đổi thực tiễn giảng dạy của giáo viên, học tập của trẻ em và văn hóa trường học.
NCBH đã được giới thiệu ở nhiều nước châu Á như Brunei, Inđônêxia, Malaysia, Thái Lan và Việt Nam. Tại Việt Nam, dự án ban đầu được lên kế hoạch và thực hiện với mục tiêu thúc đẩy việc lấy trẻ em làm trung tâm giáo dục trong các trường học. Bộ GD&ĐT Việt Nam và cơ quan Hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA) thực hiện dự án này từ tháng 10 năm 2004 và tháng 8 năm 2007 với 5 trường, trong nghiên cứu này đóng vai trò là các trường thí điểm. Đội ngũ tư vấn tương tác với Sở GD&ĐT tỉnh Bắc Giang với tư cách là tổ chức đối tác.
Năm 2009, mô hình được giới thiệu đến các trường đại học, cao đẳng sư phạm thông qua Hội thảo quốc tế về NCBH tại trường đại học Sư phạm Hà Nội (do viện nghiên cứu sư phạm tổ chức). Năm 2010, tổ chức Plan và Tổ chức cứu trợ trẻ em (SC) giới thiệu và xây dựng mô hình NCBH ở các trường tiểu học trong một số tỉnh (Thái Nguyên, Phú Thọ, Quảng Bình, Quảng Trị, Lào Cai,…). Năm 2013, mô hình NCBH được triển khai giới thiệu thí điểm ở một số tỉnh, thành phố thông qua chương trình đảm bảo chất lượng giáo dục (SEQAP) trong đó cótỉnh Bắc Ninh. Chính vì những hiệu quả của hoạt động NCBH mang lại mà mô hình này cũng được nhiều tác giả tập trung nghiên cứu như: Vũ Thị Sơn, Nguyễn Duân (2010), “Nghiên cứu bài học - một cách tiếp cận năng lực nghề 8 nghiệp của giáo viên” [48], Nguyễn Mậu Đức, Lê Huy Hoàng (2012), “Phương pháp bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho GV, SV Sư phạm thông qua mô hình NCBH” [19]; Hội nghị tập huấn Đổi mới phương pháp sinh hoạt chuyên môn theo hướng NCBH (12/9/2013- Sở GD&ĐT Hải Phòng).
Các công trình nghiên cứu về phát triển năng lực dạy học phân hóa cho giáo viên và quản lý phát triển năng lực dạy học phân hóa cho giáo viên theo hướng nghiên cứu bài học Năm 1991, Barry. L trong công trình “Beginning teaching” [59] đã “đề cập tới những NL cần được phát triển cho GV trẻ mới ra trường và những NL cần được phát triển cho GV có kinh nghiệm để đáp ứng được những yêu cầu của xã hội. Duminy đã rất chú trọng đến NLDH sau khi tốt nghiệp ra trường của SV”. Theo tác giả, “để GV có thể làm được và sẽ làm được gì sau khi ra trường thì trong quá trình dạy học người GV phải luôn chú ý đến rèn kỹ năng và phát triển NLDH cho GV” [59].
Căn cứ vào cơ sở lý luận và thực tiễn, tác giả đề xuất chương trình bồi dưỡng kỹ năng DHPH cho giáo viên Lê Hoàng Hà (2012), “Quản lý dạy học theo quan điểm DHPH ở trường trung học phổ thông Việt Nam hiện nay” [23]. Vấn đề quản lý phát năng lực cho giáo viên đã được nhiều nhà giáo dục học trên thế giới và trong nước nghiên cứu. Nhà giáo dục nổi tiếng J. Komensky (1592-1670) cho rằng, “Đối với hoạt động học tập của mỗi cá nhân thì việc càng học nhiều, ôn tập nhiều thì kiến thức sẽ càng vững vàng.
Do vậy, cá nhân phải chịu khó học tập và bồi dưỡng kiến thức và đặc biệt là biến quá trình học tập, bồi dưỡng thành quá trình tự học, tự bồi dưỡng” (dẫn theo Đặng Thành Hưng (2013), Tiếp cận quản lý giáo dục hiện đại, Tập 1, Trường Đại học sư phạm Hà Nội 2, Hà Nội). Tác giả đặc biệt nhấn mạnh cách thức quản lý chính là điểm mấu chốt tạo nên hiệu quả của quản lý phát triển năng lực chuyên môn cho GV. Các nhà khoa học Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học liên quan đến phát triển chuyên môn cho giáo viên. Trong các nghiên cứu của mình, một 9 số nhà khoa học như: Phạm Minh Hạc, Nguyễn Ngọc Quang, Đặng Vũ Hoạt, Đặng Quốc Bảo., đã đưa ra những nguyên tắc chung của quản lý giáo dục, quản lý nhà trường, trình bày những vấn đề lý luận cơ bản về khoa học quản lý như: khái niệm, bản chất và các giai đoạn của hoạt động quản lý, cũng như đã đề ra một số giải pháp chung trong quản lý nhà trường các bậc học.
Nghiên cứu về công tác phát triển năng lực nghề nghiệp cho giáo viên: Dự án phát triển GV tiểu học (2002) triển khai nghiên cứu công tác đào tạo, bồi dưỡng GV và CBQL giáo dục tiểu học đáp ứng yêu cầu phát triển giáo dục tiểu học; dự án Hỗ trợ đổi mới quản lý giáo dục (SREM) (2006) nghiên cứu về đổi mới quản lý trường phổ thông ở các cấp học, hỗ trợ thực hiện mục tiêu Chiến lược phát triển giáo dục Việt Nam 2001-2010; Dự án Việt – Bỉ (1999) “Nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng GV tiểu học, trung học cơ sở các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam”; Công trình nghiên cứu đề xuất các giải pháp cải cách công tác đào tạo, bồi dưỡng GV phổ thông của tác giả Nguyễn Thị Bình (2013)… Tác giả Nguyễn Thị Kim Dung với nghiên cứu “Thực trạng đào tạo giáo viên – nhìn từ khả năng đáp ứng yêu cầu thực tiễn giáo dục phổ thông của sinh viên năm cuối và giáo viên trẻ”. Tác giả đã nghiên cứu thực trạng đáp ứng yêu cầu thực tiễn giáo dục phổ thông của giáo viên trẻ và sinh viên năm cuối, tác giả đã đưa ra nhận định về trình độ CNTT của giáo viên là một trong những khó khăn của đội ngũ giáo viên trẻ trong thực tiễn giảng dạy. Chính vì vậy, việc bồi dưỡng năng lực chuyên môn cần đi kèm với bồi dưỡng kỹ năng CNTT cho đội ngũ giáo viên trẻ. Hoạt động TCM là hoạt động quan trọng trong các hoạt động của nhà trường.
Nâng cao chất lượng hoạt động NCBH trong TCM góp phần nâng cao chất lượng GD của các nhà trường. Trong các công trình nghiên cứu về quản lý GD đã có một số công trình nghiên cứu về quản lý hoạt động của các TCM trong nhà trường trong có thể kể đến là các công trình của các tác giả: Nguyễn Ngọc Quang, Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Hà Sỹ Hồ. Các tác giả đề cập đến các vấn đề chung về quản lý GD, lý luận quản lý GD, các nội dung về quản lý TCM và các nội dung khác về quản lý GD. Các tác giả đã đề cập về vấn đề đội công tác trong một tổ chức.
TCM là tổ chức nằm trong nhà trường vì vậy nghiên cứu về hoạt động 10 TCM là nghiên cứu về vấn đề đội công tác trong tổ chức. Trong những năm gần đây, đã có nhiều đề tài luận văn thạc sĩ, nhiều tác giả nghiên cứu về quản lý nâng cao chất lượng hoạt động TCM.