Chương 1 :Lý thuyết về quản lý nợ xấu của các NHTM Chương 2:Thực trạng nợ xấu và quản lý nợ xấu tại Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam-Chi nhánh 5 TPHCM Chương 3:Các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nợ xấu tại Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam- chi nhánh 5 TPHCM TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 3 CHƢƠNG 1: LÝ THUYẾT VỀ QUẢN LÝ NỢ XẤU CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Tổng quan về nợ xấu tại các NHTM. Khái niệm nợ xấu. Nợ xấu theo quan điểm thế giới.
Theo ngân hàng Trung ương Liên minh Châu Âu. Nợ xấu trong các NHTM gồm: - Những khoản nợ không thể thu hồi được: những khoản nợ đã hết hiệu lực hoặc những khoản nợ không có căn cứ để đòi bồi thường từ nợ; người mắc nợ bỏ trốn hoặc bị mất tích, không còn tài sản để thanh toán nợ; những khoản nợ mà ngân hàng không thể liên lạc được với người mắc nợ hoặc không thể tìm được người mắc nợ; những khoản nợ mà khách nợ đã chấm dứt hoạt động kinh doanh, thanh lý tài sản, hoặc kinh doanh bị thua lỗ và tài sản còn lại không đủ để trả nợ. - Nợ có thể thu không thanh toán đầy đủ cho ngân hàng: là những khoản nợ không có tài sản thế chấp hoặc tài sản thế chấp không đủ trả nợ. Người mắc nợ không liên lạc với ngân hàng để trả và lãi hoặc gốc có thời hạn thanh toán, hoặc hoàn cảnh chỉ ra rằng khoản nợ sẽ không thể thu hồi được đầy đủ.
Theo định nghĩa Nợ xấu của Phòng thống kê – Liên hợp quốc. Về cơ bản một khoản nợ được coi là nợ xấu khi quá hạn trả lãi và/hoặc gốc trên 90 ngày; hoặc các khoản lãi chưa trả từ 90 ngày trở lên đã được nhập gốc, tái cấp vốn hoặc chậm trả theo thoả thuận; hoặc các khoản phải thanh toán đã quá hạn dưới 90 ngày nhưng có lý do chắc chắn để nghi ngờ về khả năng khoản vay sẽ được thanh toán đầy đủ. Theo Basel II. Tháng 6 năm 2004, ủy ban Basel đã xây dựng Hiệp định mới về “Tiêu chuẩn vốn quốc tế” - mà chúng ta vẫn gọi là Basel II, và được chỉnh sửa liên tục trong các thời gian TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 4 tiếp theo.
Theo đó, các ngân hàng sẽ sử dụng hệ thống cơ sở dữ liệu của nội bộ để đánh giá vấn đề rủi ro tín dụng, từ đó xác định hệ số an toàn vốn tối thiểu. Cụ thể, theo yêu cầu của Basel II, các ngân hàng sẽ sử dụng các mô hình dựa trên hệ thống dữ liệu nội bộ để xác định khả năng tổn thất tín dụng. Các ngân hàng sẽ xác định các biến số như PD - Probability of Default: xác suất khách hàng không trả được nợ; LGD: Loss Given Default - tỷ trọng tổn thất ước tính; EAD: Exposure at Default - tổng dư nợ của khách hàng tại thời điểm khách hàng không trả được nợ. Thông qua các biến số trên, ngân hàng sẽ xác định được EL: Expected Loss - tổn thất có thể ước tính.
Với mỗi kỳ hạn xác định, tổn thất có thể ước tính được tính toán dựa trên công thức sau: EL = PD x EAD x LGD 1. Nợ xấu theo quan điểm Việt Nam. Quan niệm về nợ xấu của ngân hàng trước năm 2000. Trước năm 2000, hệ thống NHTM Việt Nam chưa có quy định cụ thể về nợ xấu mà chỉ có các quy định về nợ quá hạn, nợ khó đòi phát sinh trong hoạt động tín dụng của các NHTM.
Khi đó, nợ xấu trong thời kỳ này bao gồm các khoản nợ quá hạn, nợ khó đòi và việc phân loại nợ xấu được xác định theo thời gian quá hạn bao gồm: nợ quá hạn dưới 90 ngày, nợ quá hạn từ 90 ngày đến 180 ngày, nợ quá hạn từ trên 180 ngày đến 360 ngày, nợ quá hạn trên 360 ngày, trong đó các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày được gọi là nợ khó đòi. Theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, các TCTD chỉ có thể chuyển nợ quá hạn đối với từng kỳ hạn trả nợ bị quá hạn, không được chuyển toàn bộ khoản vay sang nợ quá hạn. Việc áp dụng các biện pháp xử lý nợ cụ thể được căn cứ vào nguyên nhân khách quan hoặc chủ quan dẫn đến nợ quá hạn, nợ khó đòi không thu hồi được. Quan niệm về nợ xấu theo Quyết định 149/2001/QĐ-TTg.
Ngày 05/10/2001, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 149/2001/QĐ- TTg về việc phê duyệt đề án xử lý nợ tồn đọng của các NHTM. Theo Quyết định này có thể hiểu nợ xấu bao gồm các khoản nợ tồn đọng phát sinh trước thời điểm 31/12/2000 và không TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 có khả năng trả nợ, mặc dù ngân hàng áp dụng nhiều giải pháp theo quy định hiện hành nhưng vẫn không thu hồi được nợ. Như vậy, khác với giai đoạn trước, các NHTM phân loại các khoản nợ xấu tồn đọng không căn cứ vào thời gian quá hạn cụ thể mà căn cứ vào tính chất và khả năng thu hồi nợ thông qua các biện pháp bảo đảm của khoản vay (có TSBĐ hoặc không có TSBĐ) và tình trạng pháp lý khách hàng (không còn tồn tại hoặc còn tồn tại, hoạt động) để phân loại thành 03 nhóm nợ tương ứng với các cơ chế xử lý kèm theo khác nhau, bao gồm: (i) Nợ xấu tồn đọng có TSBĐ (nợ tồn đọng nhóm 1); (ii) Nợ xấu tồn đọng không có TSBĐ và không còn đối tượng thu hồi (nợ tồn đọng nhóm 2);(iii) Nợ xấu tồn đọng không có TSBĐ nhưng con nợ đang còn tồn tại, hoạt động (nợ tồn đọng nhóm 3). Quan niệm về nợ xấu theo Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN (giai đoạn hiện nay)và Thông tư số 02/2013/TT-NHNN ngày 21/03/2013(sẽ có hiệu lực kể từ ngày 01/06/2014).
Theo đó ,nợ xấu là những khoản nợ được phân loại vào nhóm 3 (nợ dưới tiêu chuẩn), nhóm 4 (nợ nghi ngờ) và nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn)”. Các tiêu chí để phân loại nợ xấu cụ thể như sau: Trích Điều 6, Điều 7, Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN * Phân loại nợ theo phương pháp định lượng: Nợ nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm: Các khoản nợ quá hạn từ 91 ngày đến 180 ngày; các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu, trừ các khoản nợ điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu phân loại vào nhóm 2 ở trên; các khoản nợ được miễn hoặc giảm lãi do khách hàng không đủ khả năng trả lãi đầy đủ theo hợp đồng tín dụng; các khoản nợ khác được phân loại vào nhóm 3. Nợ nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) bao gồm: Các khoản nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày; các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dưới 90 ngày theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu; các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ 2; các khoản nợ khác được phân loại vào nhóm 4. Nợ nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) bao gồm: Các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày; các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn từ 90 ngày trở lên theo thời hạn trả TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 nợ được cơ cấu lại lần đầu; các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ 2 quá hạn theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần thứ hai; các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ 3 trở lên, kể cả chưa bị quá hạn hoặc đã quá hạn; các khoản nợ khoanh, nợ chờ xử lý; các khoản nợ khác được phân loại vào nhóm 5.
* Phân loại nợ theo phương pháp định tính: Nhóm 3 - Nợ dưới tiêu chuẩn bao gồm các khoản nợ được TCTD đánh giá là không có khả năng thu hồi nợ gốc và lãi khi đến hạn. Các khoản nợ này được TCTD đánh giá là có khả năng tổn thất một phần nợ gốc và lãi. Nhóm 4 - Nợ nghi ngờ bao gồm các khoản nợ được TCTD đánh giá là khả năng tổn thất cao. Nhóm 5 - Nợ có khả năng mất vốn bao gồm các khoản nợ được TCTD đánh giá là không còn khả năng thu hồi, mất vốn.
Thông tư số 02/2013/TT-NHNN ngày 21/03/2013 mở rộng định nghĩa các khoản vay. Định nghĩa mới bao gồm cả (i) các khoản vay bằng thẻ tín dụng ; (ii) các khoản mục ngoại bảng; (iii) đầu tư vào trái phiếu công ty chưa niêm yết, (iv) đầu tư ủy thác và (v) tiền gửi tại các tổ chức tín dụng (TCTD) khác do đó đối tượng phân loại nợ sẽ rộng hơn so với quyết định 493/2005/QĐ-NHNN 1. Nguyên nhân hình thành nên nợ xấu. Nguyên nhân khách quan.
Đây là những nguyên nhân trực tiếp hay gián tiếp gây ra tình trạng nợ xấu tại ngân hàng, tuy nhiên lỗi chính không nằm về phía ngân hàng. - Môi trường kinh doanh gặp nhiều khó khăn, tình hình kinh doanh và tài chính của các DN suy giảm Kể từ cuối năm 2008, nền kinh tế chịu tác động tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu, sau đó là vấn đề lạm phát cao. Những tác động tiêu cực này khiến cho tốc độ tăng trưởng kinh tế và tổng cầu chậm lại. Trong khi đó, tại các DN chỉ số tồn kho tăng mạnh,dẫn đến đọng vốn trong sản xuất kinh doanh và phần vốn vay ngân TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 hàng khi đến hạn không có khả năng thanh toán dẫn đến nợ quá hạn Bên cạnh đó, rất nhiều DN hiện nay có năng lực tài chính yếu, chủ yếu dựa vào vốn vay ngân hàng, vốn chủ sở hữu nhỏ và khả năng ứng phó với sự thay đổi môi trường kinh doanh hạn chế.
Vì vậy, khi môi trường kinh doanh xấu đi, chính sách kinh tế vĩ mô thắt chặt, lãi suất tăng, đồng thời tiêu thụ hàng hoá khó khăn đã ảnh hưởng lớn đến điều kiện tài chính, kết quả kinh doanh và khả năng trả nợ vay ngân hàng của DN. - Do sự mất ổn định và thiếu đồng bộ, hợp lý của pháp luật, môi trường pháp lý cho kinh doanh tín dụng chưa đầy đủ. Trong những năm gần đây, Quốc hội, Ủy ban thường vụ quốc hội, Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước và các cơ quan liên quan đã ban hành nhiều luật văn bản dưới luật hướng dẫn thi hành luật liên quan đến hoạt động tín dụng Ngân hàng.