CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NỢ XẤU TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Nợ xấu của ngân hàng thương mại 1. Khái niệm Nhóm tư vấn của Liên Hợp quốc (AEG) cho rằng “định nghĩa nợ xấu không nên mang tính chất mô tả mà chỉ nên được sử dụng như hướng dẫn cho các ngân hàng” (Trung tâm Thông tin Tư liệu, 2013). AEG đưa ra nguyên tắc chung để hiểu về khái niệm nợ xấu như sau: “Về cơ bản một khoản nợ được coi là nợ xấu khi quá hạn trả lãi và/hoặc gốc trên 90 ngày; hoặc các khoản lãi chưa trả từ 90 ngày trở lên đã được nhập gốc, tái cấp vốn hoặc chậm trả theo thoả thuận; hoặc các khoản phải thanh toán đã thanh toán dưới 90 ngày nhưng có lý do chắc chắn để nghi ngờ về khả năng khoản vay sẽ được thanh toán đầy đủ”.
Cách tiếp cận nợ xấu như vậy được xác định dựa trên hai yếu tố: “(i) quá hạn trên 90 ngày; và (ii) nghi ngờ về khả năng trả nợ”. Các quốc gia tùy vào mức độ phát triển kinh tế khác nhau sẽ đưa ra những khái niệm về nợ xấu cũng khác nhau. Để đưa ra những cách nhìn về nợ xấu một cách tổng thể, một số tổ chức quốc tế cũng thảo luận và đưa ra những cách nhìn riêng như sau: Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) đưa ra khái niệm được đề cập trong tài liệu “Hướng dẫn tính các chỉ số lành mạnh tài chính” về nợ xấu: “Nợ xấu là những khoản nợ có lãi hoặc /và gốc quá hạn 90 ngày hoặc trên 90 ngày, các khoản lãi quá hạn 90 ngày hoặc trên 90 ngày được vốn hóa, tái tài trợ hoặc hoãn trả nợ theo thỏa thuận, hoặc quá hạn dưới 90 ngày nhưng có các dấu hiệu khác cho thấy người vay không có khả năng thanh toán đầy đủ về gốc và lãi” (Trung tâm Thông tin Tư liệu, 2013). Uỷ ban Basel về Giám sát ngân hàng (BCBS) (2005) cũng không đưa ra định nghĩa rõ rang cách hiểu, nhận biết về nợ xấu.
Tuy nhiên, trong các hướng dẫn về các thông lệ chung tại nhiều quốc gia về quản lý RRTD, BCBS xác định “việc khoản nợ bị coi là không có khả năng hoàn trả khi một trong hai hoặc cả hai điều kiện sau xảy ra: (i) ngân hàng thấy người vay không có khả năng trả nợ đầy đủ khi ngân hàng chưa 10 thực hiện hành động gì để gắng thu hồi ví dụ giải chấp chứng khoán (nếu đang nắm giữ) (ii) người vay đã quá hạn trả nợ quá 90 ngày”. BCBS đặc biệt nhấn mạnh tới khái niệm “mất mát có thể xảy ra trong tương lai khi đánh giá một khoản vay. Dựa trên hướng dẫn này, nợ xấu sẽ bao gồm toàn bộ các khoản cho vay đã quá hạn 90 ngày và có dấu hiệu người đi vay không trả được nợ. Tuy nhiên, một vài quốc gia báo cáo nợ xấu bao gồm các khoản nợ quá hạn 31 ngày quá hạn, hoặc báo cáo các khoản nợ quá hạn 61 ngày được tính vào danh mục nợ xấu.
Chính vì mốc thời gian quá hạn 90 ngày là một tiêu chí khá phổ biến nhưng không phải thống nhất hoàn toàn, việc đánh giá và so sánh số liệu nợ xấu giữa các quốc gia cần phải hết sức thận trọng và được kiểm tra kỹ lưỡng các qui định cụ thể định tính và định lượng ở từng quốc gia”. Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Việt Nam đưa ra khái niệm về nợ xấu trong Thông tư số 02/2013/TT-NHNN của NHNN ngày 21/1/2013 về việc “Quy định phân loại tài sản có, mức trích lập, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro (DPRR) trong hoạt động của TCTD, chi nhánh nước ngoài” tại Điều 3 như sau (Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, 2013): “Nợ xấu là những khoản nợ được phân loại vào nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuân), nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) và nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn). Các nhóm nợ được phân loại theo Điều 10 và Điều 11 trong Quyết định này. Trong đó: - Phân loại nợ theo Điều 10 chủ yếu dựa trên thời gian quá hạn của các khoản nợ (Nhóm 3: thời gian quá hạn từ 91 - 180 ngày, Nhóm 4: thời gian quá hạn từ 181 - 360 ngày, Nhóm 5: thời gian quá hạn trên 360 ngày).
- Phân loại nợ theo Điều 11 lại chủ yếu dựa trên khả năng trả nợ của khách hàng. Như vậy, nợ xấu theo quan điểm của NHNN Việt Nam cũng được xác định dựa trên hai yếu tố: “(i) đã quá hạn trên 91 ngày hoặc (ii) khả năng trả nợ đáng lo ngại”. Tuy nhiên, theo Điều 10 hay Điều 11 của Theo Thông tư số 02/2013/TT-NHNN thì 11 NHNN cho phép các đơn vị căn cứ vào khả năng và điều kiện tiến hành phân loại nợ của từng đơn vị để lựa chọn cho phù hợp. Phân loại nợ xấu Nợ xấu được chia thành 3 nhóm (NHNN Việt Nam, 2013): nhóm 3 (nợ dưới tiêu chuẩn), nhóm 4 (nợ nghi ngờ), nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn).
Đối với từng nhóm nợ, NHNN quy định rõ cách thức nhận diện và phân loại từng nhóm nợ trên như sau. * Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm: “(i) Nợ quá hạn từ 91 ngày đến 180 ngày; (ii) Nợ gia hạn nợ lần đầu; (iii) Nợ được miễn hoặc giảm lãi do khách hàng không đủ khả năng trả lãi đầy đủ theo hợp đồng tín dụng; (iv) Nợ thuộc một trong các trường hợp sau đây: - Nợ của khách hàng hoặc bên bảo đảm là tổ chức, cá nhân thuộc đối tượng mà tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài không được cấp tín dụng theo quy định của pháp luật; - Nợ được bảo đảm bằng cổ phiếu của chính tổ chức tín dụng hoặc công ty con của tổ chức tín dụng hoặc tiền vay được sử dụng để góp vốn vào một tổ chức tín dụng khác trên cơ sở tổ chức tín dụng cho vay nhận tài sản bảo đảm bằng cổ phiếu của chính tổ chức tín dụng nhận vốn góp; - Nợ không có bảo đảm hoặc được cấp với điều kiện ưu đãi hoặc giá trị vượt quá 5% vốn tự có của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài khi cấp cho khách hàng thuộc đối tượng bị hạn chế cấp tín dụng theo quy định của pháp luật; - Nợ cấp cho các công ty con, công ty liên kết của tổ chức tín dụng hoặc doanh nghiệp mà tổ chức tín dụng nắm quyền kiểm soát có giá trị vượt các tỷ lệ giới hạn theo quy định của pháp luật; - Nợ có giá trị vượt quá các giới hạn cấp tín dụng, trừ trường hợp được phép vượt giới hạn, theo quy định của pháp luật; (NHNN Việt Nam, 2013)” “- Nợ vi phạm các quy định của pháp luật về cấp tín dụng, quản lý ngoại hối và các tỷ lệ bảo đảm an toàn đối với tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài; 12 - Nợ vi phạm các quy định nội bộ về cấp tín dụng, quản lý tiền vay, chính sách dự phòng rủi ro của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Các tác động của nợ xấu 1. Nợ xấu tác động đến kết quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Nợ xấu có thể dẫn tới gia tăng các chi phí liên quan đến hoạt động của các NHTM (như chi phí quản lý, trích lập DPRR, chi phí xử lý nợ xấu), trong khi không phát sinh thêm doanh thu, điều này dẫn tới việc lợi nhuận của các NHTM sẽ giảm.
Tài 13 sản đảm bảo (TSĐB) trong thực tế có thể hư hỏng, giá trị giảm do khấu hao và hao mòn. Điều này sẽ dẫn tới phát sinh những chi phí để duy trì tình trạng hoạt động cho TSĐB, chi phí lưu kho, và các chi phí gián tiếp khác liên quan đến TSĐB. Một số TSĐB có giá trị cao nhưng tính thanh khoản thấp hoặc lỗi thời cũng sẽ ảnh hưởng đến giá trị của TSĐB, việc thanh lý mất nhiều thời gian và không đảm bảo việc thu hồi vốn cho NHTM. Nhìn chung, khi nợ xấu mà càng nhiều, thì chi phí sử dụng vốn của NHTM càng tăng, điều này dẫn tới lợi nhuận của NHTM giảm.
Nợ xấu tác động đến kết quả hoạt động của các doanh nghiệp trong nền kinh tế Nợ xấu sẽ làm gia tăng chi phí cho vay của ngân hàng, để đảm bảo lợi nhuận, bù đắp thiệt hại do nợ xấu gây ra, ngân hàng phải gia tăng lãi suất cho vay để tăng thu nhập bù đắp thiệt hại. Điều này sẽ làm cho doanh nghiệp phải tiếp cận nguồn vốn vay với lãi suất cao hơn, khiến cho doanh nghiệp khó khan hơn trong việc tiếp cận nguồn vốn từ phía các ngân hàng. Ngân hàng bị nợ xấu cũng thắt chặt công tác quản lý, gắt gao hơn trong việc đánh giá rủi ro hoạt động kinh doanh của khách hàng, điều này cũng trực tiếp tác động lên các đánh giá quyết định cho vay của ngân hàng đối với các doanh nghiệp. Để đảm bảo, doanh nghiệp cần phải chứng minh tài sản cũng như năng lực nhiều hơn.
Nợ xấu tác động đến kết quả hoạt động của cả nền kinh tế Nợ xấu khi xảy ra đối với nhiều ngân hàng thì sẽ dẫn tới thiệt hại to lớn cho cả nền kinh tế. Bởi vì nợ xấu làm gia tăng chi phí sử dụng vốn, làm cho các doanh nghiệp muốn tiếp cận vốn gặp nhiều khó khăn. Hậu quả là nền kinh tế sẽ không có đủ nguồn vốn để tạo động lực cho phát triển kinh tế. Ở tầm vĩ mô, nợ xấu sẽ ảnh hưởng tới tăng trưởng của các ngành, làm giảm chức năng cung ứng vốn cho nền kinh tế của NHTM.
Mặt khác, nếu không kiểm soát tốt để nợ xấu gia tăng, các NHTM cũng có khả năng bị phá sản, gây ảnh hưởng lan truyền toàn hệ thống. Điều này đặc biệt nghiêm trọng, vì tài chính luôn là vấn đề quan tâm của cả nền kinh tế. Việc NHTM rơi vào tình trạng phá sản hoặc nằm trong diện kiểm soát đặc biệt cũng sẽ gây ảnh hưởng tới tâm lý của người dân, các dòng vốn sẽ bị ngưng trệ, các NHTM khác cũng chịu ảnh hưởng phải 14 đẩy lãi suất huy động cũng như lãi suất cho vay lên, như vậy sẽ là tác động kép làm tình hình kinh tế trở nên khó khăn hơn. Do đó, nợ xấu là vấn đề mà NHNN luôn quan tâm và theo dõi cẩn thận, tránh ảnh hưởng tới nền kinh tế của một quốc gia.
Quản lý nợ xấu tại ngân hàng thương mại 1. Khái niệm quản lý nợ xấu Khái niệm quản lý thường được hiểu là “hệ thống các hoạt động dựa trên những nguyên tắc nhất định nhằm đạt mục tiêu quản lý đã đề ra” (Nguyễn Văn Nhật, 2017).