phần mở đầu, luận văn có kết cấu gồm 04 chƣơng cụ thể nhƣ sau: Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và kinh nghiệm về quản lý hoạt động tín dụng của Ngân hàng chính sách xã hội Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu. Chƣơng 3: Thực trạng quản lý hoạt động tín dụng tại Ngân hàng chính sách xã hội tỉnh Hải Dƣơng. Chƣơng 4: Giải pháp hoàn thiện quản lý hoạt động tín dụng tại Ngân hàng chính sách xã hội tỉnh Hải Dƣơng 3 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu Hoạt động kinh doanh ngân hàng tiềm ẩn nhiều rủi ro nhƣ rủi ro tín dụng, rủi ro thị trƣờng, rủi ro lãi suất, rủi ro thanh khoản, rủi ro tỷ giá.Trong đó rủi ro khó phòng ngừa nhất là rủi ro từ hoạt động tín dụng. Do đó, quản lý tín dụng luôn là một vấn đề mang tính thời sự đƣợc quan tâm, nghiên cứu ở bất cứ thời điểm phát triển nào của đất nƣớc.
Cho đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu chuyên sâu của các chuyên gia, giáo sƣ về vấn đề này. Dƣới đây, tác giả trình bày một số nghiên cứu đi trƣớc có liên quan đến đề tài: Tác giả Nguyễn Văn Hùng (2014) với đề tài: “ Quản lý hoạt động tín dụng tại ngân hàng chính sách Nghệ An cho các huyện thuộc chƣơng trình 30A tỉnh Nghệ An”, luận văn thạc sĩ Quản lý kinh tế. Trên cơ sở nghiên cứu tại ngân hàng CSXH của ba huyện 30a tỉnh Nghệ An, luận văn đã đƣa ra các nhóm giải pháp để nâng cao chất lƣợng quản lý tín dụng, đó là: Sự phối hợp chặt chẽ giữa ngân hàng chính sách xã hội với các tổ chức nhận Ủy thác, phải hoàn thiện mô hình mạng lƣới hoạt động, gồm hoàn thiện mạng lƣới các điểm giao dịch, tổ tiết kiệm và tổ vay vốn. Đối với tổ tiết kiệm và vay vốn phải xây dựng trên cơ sở bền vững, có số lƣợng tổ viên đông đảo và dƣ nợ tƣơng đối lớn để hoạt động có hiệu quả.
Luận văn có ý nghĩa lớn góp phần cho các ngân hàng CSXH ở các huyện 30a tỉnh Nghệ An từng bƣớc nâng cao chất lƣợng quản lý tín dụng, góp phần tích cực hơn vào công tác xóa đói giảm nghèo mà Đảng và Nhà nƣớc ta đang tiến hành. Tuy nhiên, một số giải pháp mà nhóm tác giả đƣa ra còn chung chung và chƣa cụ thể. Tác giả Vũ Mạnh Bảo (2011), với đề tài: “ Tín dụng nhà nƣớc đối với phát triển kinh tế các tỉnh Tây Nguyên”, luận văn thạc sĩ kinh tế trƣờng đại học ngân hàng thành phố Hồ Chí Minh. Luận văn đã tập trung trình bày các cơ sở lý luận liên quan đến tín dụng nhà nƣớc đối với sự phát triển kinh tế ở các tỉnh Tây Nguyên, các nội dung tín dụng nhà nƣớc đối với sự phát triển kinh tế các tỉnh Tây Nguyên.
Căn cứ vào cơ sở lý 4 luận, luận văn đã trình bày thực trạng về hoạt động tín dụng Nhà nƣớc đối với phát triển kinh tế ở các tỉnh Tây Nguyên, tuy nhiên khi phân tích luận văn chƣa tập trung là rõ các nhân tố ảnh hƣởng đến tín dụng nhà nƣớc đối với phát triển kinh tế ở các tỉnh Tây Nguyên. Tác giả Cẩm Hà Tú (2015) với đề tài: “ Nâng cao hiệu quả hoạt động cho vay đối với học sinh sinh viên tại chi nhánh ngân hàng chính sách xã hội tỉnh Phú Thọ”, luận văn thạc sĩ kinh tế, trƣờng đại học kinh tế và quản trị kinh doanh đại học Thái Nguyên. Luận văn đã tập trung trình bày các cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về hiệu quả cho vay học sinh sinh viên của ngân hàng chính sách xã hội tỉnh Phú Thọ. Bên cạnh đó, phân tích thực trạng hiệu quả cho vay học sinh sinh viên của ngân hàng chính sách xã hội tỉnh Phú Thọ, chỉ ra điểm yếu, điểm mạnh và nguyên nhân.
Thông qua đó, luận văn cũng tập trung trình bày các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả cho vay đối với học sinh sinh viên tại ngân hàng chính sách xã hội tỉnh Phú Thọ. Tuy nhiên, luận văn nghiên cứu chỉ dựa trên đánh giá chủ quan của bản thân tác giả, thông qua việc phân tích các số liệu mà thiếu đánh giá khách quan bằng việc tham khảo ý kiến của các bên liên quan. Tác giả Vũ Thị Hiền Lƣơng (2014) với đề tài: “ Đánh giá hiệu quả của tín dụng tại ngân hàng chính sách xã hội đối với hộ nghèo tỉnh Thái Nguyên”, luận văn thạc sĩ kinh tế trƣờng đại học kinh tế và quản trị kinh doanh Thái Nguyên, luận văn đã tập trung làm rõ thực trạng tín dụng tại ngân hàng chính sách xã hội tỉnh Thái Nguyên đối với hộ nghèo, tuy nhiên các giải pháp mà tác giả đƣa ra còn chung chung chƣa bám sát và các nguyên nhân của điểm yếu để xây dựng nên giải pháp cụ thể. Nhìn chung các công trình nghiên cứu ở trên đều đã nghiên cứu và đề cập đến việc tổ chức và quản lý tín dụng ngân hàng trên nhiều khía cạnh khác nhau.
Tuy nhiên tất cả các công trình nghiên cứu trên chƣa có công trình nào nghiên cứu về quản lý tín dụng của Ngân hàng chính sách xã hội tại ngân hàng CSXH Hải Dƣơng. Chính vì vậy, việc nghiên cứu luận văn sẽ góp phần bổ sung về lý luận cũng nhƣ thực tiễn cho công tác quản lý tín dụng trong công tác xoá đói giảm nghèo trên địa bàn tỉnh Hải Dƣơng.2 Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động tín dụng của NHCSXH 1.1 Những vấn đề chung về NHCSXH và hoạt động tín dụng của NHCSXH 5 1.1 Ngân hàng chính sách xã hội - Khái niệm về ngân hàng chính sách xã hội Ngân hàng chính sách xã hội là một tổ chức tín dụng với hoạt động chủ yếu là phục vụ ngƣời nghèo và các chính sách kinh tế, chính trị và xã hội đặc biệt của mỗi quốc gia.Mục tiêu chính của các NHCSXH không phải là lợi nhuận trong kinh doanh mà là hỗ trợ tối đa về vốn cho các đối tƣợng là ngƣời nghèo không đủ điều kiện tín dụng đảm bảo.Chính vì thế, ngân hàng CSXH không phải là một ngân hàng thƣơng mại và không đáp ứng các tiêu chí về kinh doanh thƣơng mại. - Vai trò của ngân hàng chính sách xã hội + Tạo nguồn vốn thoát nghèo cho ngƣời nghèo, góp phần thực hiện xoá đói giảm nghèo + Thúc đẩy phát triển kinh tế ở các khu vực sản xuất, các doanh nghiệp cần sự hỗ trợ phát triển + Thực hiện chính sách kinh tế xã hội của chính phủ trong giáo dục, y tế và khoa học NHCSXH đƣợc thành lập để thực hiện chính sách tín dụng ƣu đãi đối với ngƣời nghèo và các đối tƣợng chính sách khác. Hoạt động của NHCSXH không vì mục đích lợi nhuận, đƣợc Nhà nƣớc bảo đảm khả năng thanh toán, tỷ lệ dự trữ bắt buộc bằng 0% (không phần trăm), không phải tham gia bảo hiểm tiền gửi, đƣợc miễn thuế và các khoản phải nộp ngân sách Nhà nƣớc.
NHCSXH đƣợc thực hiện các nghiệp vụ: huy động vốn, cho vay, thanh toán, ngân quỹ và đƣợc nhận vốn uỷ thác cho vay ƣu đãi của chính quyền địa phƣơng, các tổ chức kinh tế, chính trị - xã hội, các hiệp hội, các hội, các tổ chức phi Chính phủ, các cá nhân trong và ngoài nƣớc đầu tƣ cho các chƣơng trình dự án phát triển kinh tế xã hội. NHCSXH là một trong những công cụ đòn bẩy kinh tế của Nhà nƣớc nhằm giúp hộ nghèo, hộ cận nghèo và đối tƣợng chính sách có điều kiện tiếp cận vốn tín dụng ƣu đãi để phát triển sản xuất, tạo việc làm, nâng cao thu nhập, cải thiện điều kiện sống, vƣơn lên thoát nghèo, góp phần thực hiện chính sách phát triển kinh tế gắn liền với xóa đói, giảm nghèo, bảo đảm an sinh xã hội, vì mục tiêu dân giàu - nƣớc mạnh - dân chủ - công bằng - văn minh. - Phân loại ngân hàng chính sách xã hội 6 Dựa vào nguồn gốc thành lập ngân hàng chính sách xã hội đƣợc chia làm hai loại: + Ngân hàng chính sách xã hội sở hữu tƣ nhân do tƣ nhân thành lập, kiểm soát và hoạt động + Ngân hàng chính sách xã hội sở hữu nhà nƣớc do nhà nƣớc thành lập, kiểm soát và hoạt động Giới thiệu về ngân hàng chính sách xã hội Việt Nam Ngân hàng Chính sách xã hội (NHCSXH) đƣợc thành lập theo Quyết định số 131/2002/QĐ-TTg ngày 04 tháng 10 năm 2002 của Thủ tƣớng Chính phủ nhằm tách tín dụng chính sách ra khỏi tín dụng thƣơng mại trên cơ sở tổ chức lại Ngân hàng Phục vụ ngƣời nghèo. Đây là sự nỗ lực rất lớn của Chính phủ Việt Nam trong việc cơ cấu lại hệ thống ngân hàng nhằm thực hiện chƣơng trình mục tiêu quốc gia và cam kết trƣớc cộng đồng quốc tế về xóa đói giảm nghèo.Hoạt động của NHCSXH là không vì mục đích lợi nhuận.
Sự ra đời của NHCSXH có vai trò rất quan trọng là cầu nối đƣa chính sách tín dụng ƣu đãi của Chính phủ đến với hộ nghèo và các đối tƣợng chính sách khác; tạo điều kiện cho ngƣời nghèo tiếp cận đƣợc các chủ trƣơng, chính sách của Đảng và Nhà nƣớc; hộ nghèo và các đối tƣợng chính sách có điều kiện gần gũi với các cơ quan công quyền ở địa phƣơng, giúp các cơ quan này gần dân và hiểu dân hơn. Từ khi thành lập, chỉ có 3 chƣơng trình tín dụng, nay đã đƣợc Chính phủ giao 18 chƣơng trình tín dụng trong nƣớc và một số chƣơng trình nhận ủy thác của nƣớc ngoài, mà chƣơng trình nào cũng thiết thực, ý nghĩa. Đây thật sự là niềm vui đối với các đối tƣợng chính sách vì họ tiếp tục có cơ hội tiếp cận nguồn vốn ƣu đãi chính thức của Nhà nƣớc, nhất là dựa trên tiền đề thành công của 7 năm hoạt động Ngân hàng Phục vụ ngƣời nghèo. Hoạt động của NHCSXH đã và đang đƣợc tiếp tục xã hội hóa, ngoài số cán bộ trong biên chế thực hiện nhiệm vụ trong hệ thống NHCSXH từ Trung ƣơng đến tỉnh, huyện còn có sự phối hợp chặt chẽ với các tổ chức chính trị - xã hội (Hội Phụ nữ, Hội Nông dân, Hội Cựu chiến binh và Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh), thực hiện nhiệm vụ ủy thác cho vay vốn thông qua trên 203,5 nghìn Tổ tiết kiệm và vay vốn tại khắp thôn, bản trong cả nƣớc, với hàng trăm nghìn cán bộ không biên chế đang sát cánh cùng ngân hàng trong công cuộc xóa đói giảm nghèo.