Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và thực tiễn về Quản lý hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại. Chương 2: Phương pháp và thiết kế nghiên cứu. Chương 3: Thực trạng Quản lý hoạt động tín dụng của Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội giai đoạn 2013 - 2016. Chương 4: Giải pháp hoàn thiệnQuản lý hoạt động tín dụng của Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội đến năm 2020.
3 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Với đặc thù trong hoạt động kinh doanh ngân hàng luôn tiềm ẩn nhiều rủi ro, đặc biệt là rủi ro trong hoạt động tín dụng,hoạt động tín dụng trong ngân hàng có hiệu quả hay không? Điều này luôn quyết định đến sự sống còn của các ngân hàng thƣơng mại,sự sụp đổ của ngân hàng ảnh hƣởng tiêu cực đến toàn bộ đời sống kinh tế, chính trị, xã hội của một nƣớc và có thể lan rộng sang qui mô quốc tế. Do vậy, quản lý hoạt động tín dụng luôn là đề tài mang tính thời sự và đƣợc quan tâm nghiên cứu nhiều ở trong nƣớc và trên thế giới. Ở Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu chuyên sâu của các Giáo sƣ, chuyên gia, Nhà khoa học về Quản lý hoạt động tín dụng của NHTM, trong đó có một số nghiên cứu gần đây, nhƣ sau: + Nguyễn Văn Tiến, 2015.
Quản trị ngân hàng thương mại. Hà Nội: NXB Lao động. Đã nghiên cứu và cập nhật những kiến thức mới nhất với nội dung tân tiến và hiện đại về Quản trị Ngân hàng thƣơng mại đang đƣợc áp dụng phổ biến trên thế giới; đồng thời chỉ ra khả năng vận dụng và những gợi ý cho các NHTM Việt Nam. + Lê Ngọc Lân, 2012.
Quản lý nhà nước đối với hoạt động tín dụng của các ngân hàng thương mại ở Việt Nam. Luận án Tiến sĩ, Học viện Khoa học xã hội.Công trình đã nghiên cứu thực trạng quản lý nhà nƣớc Ngân hàng Nhà nƣớc Việt Nam đối với hoạt động tín dụng của các NHTM tại Việt Nam giai đoạn 2005 – 2010. 4 Ngoài ra, còn có những nghiên cứu tập trung đánh giá hoạt động tín dụng và giải pháp tín dụng cho một chi nhánh của ngân hàng cụ thể nhƣ: + Võ Tú Oanh, 2015. Quản lý hoạt động tín dụng tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam – Chi nhánh Đông Hà Nội.
Luận văn Thạc sĩ,Trƣờng Đại học kinh tế - ĐHQGHN. Công trình đã nghiên cứu lý luận về các nội dung quản lý hoạt động tín dụng, tiêu chí đánh giá hiệu quả trong quản lý hoạt động tín dụng, trên cơ sở một số hạn chế tại Ngân hàng TMCP Công thƣơng Việt Nam – Chi nhánh Đông Hà Nội, tác giả đã đƣa ra đƣợc một số giải pháp hoàn thiện quản lý hoạt động tín dụng tại Ngân hàng đến năm 2020. Phát triển hoạt động tín dụng tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam – Chi nhánh Đống Đa. Luận văn Thạc sĩ,Trƣờng Đại học kinh tế - ĐHQGHN.
Công trình đã đi sâu nghiên cứu lý luận về tín dụng ngân hàng, phân tích đánh giá thực trạng hoạt động tín dụng tại Ngân hàng TMCP Công thƣơng Việt Nam – Chi nhánh Đống đa, đồng thời đã đƣa ra đƣợc một số giải pháp pháp triển tín dụng tại Chi nhánh Ngân hàng trong một khoảng thời gian nhất định. + Trịnh Doãn Diện, 2015. Quản lý hoạt động tín dụng tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và phát triển Việt Nam – Chi nhánh Hà Giang. Luận văn Thạc sĩ, Trƣờng Đại học kinh tế - ĐHQGHN.Công trình đã nghiên cứu lý luận về quản lý hoạt động tín dụng, một số nội dung về quản lý hoạt động tín dụng tại ngân hàng thƣơng mại.
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trên đây chủ yếu tập trung vào việc nghiên cứu những vấn đề mang tính khoa học lý luận và thực tiễn có liên quan đến tín dụng ngân hàng ở cả tầm vĩ mô và vi mô, quản lý và phòng tránh rủi ro trong kinh doanh ngân hàng mà chƣa có công trình nào nghiên cứu về Quản lý hoạt động tín dụng của Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội,do đó tác giả cho rằng luận văn này không phải là luận văn đầu tiên nghiên cứu về 5 Quản lý hoạt động tín dụng của các TCTD nhƣng là đề tài đầu tiên nghiên cứu về Quản lý hoạt động tín dụng của Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội. Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại 1. Khái quát về tín dụng ngân hàng 1. Khái niệm về tín dụng Tín dụnglà việc một bên (bên cho vay) cung cấp nguồn tài chính cho đối tượng khác (bên đi vay) trong đó bên đi vay sẽ hoàn trả tài chính cho bên cho vay trong một thời hạn thỏa thuận và thường kèm theo lãi suất.
Tín dụng phản ánh mối quan hệ giữa hai bên:một bên là ngƣời cho vay, và một bên là ngƣời đi vay,quan hệ giữa hai bên ràng buộc bởi cơ chế tín dụng, thỏa thuận thời gian cho vay, lãi suất phải trả. Mục đích của luận văn là xem xét tín dụng nhƣ là một chức năng cơ bản của ngân hàng, vì vậy trên cơ sở tiếp cận theo chức năng hoạt động của ngân hàng thì cấp tín dụng đƣợc hiểu nhƣ sau: Theo Luật các TCTD số 47/2010/QH12 đƣợc Quốc hội nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 16/6/2010 thì: “Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác”. Trong thực tế, chúng ta thƣờng nhầm lẫn cho rằng hoạt động tín dụng và hoạt động cho vay là một, tuy nhiên thì không phải nhƣ vậy,cũngtheo Luật các TCTD số 47/2010/QH12 thì: “Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi”. 6 Từ khái niệm trên đã chứng minh đƣợc rằng hoạt động tín dụng của ngân hàng phong phú và đa dạng hơn nhiều, hay nói cách khác cho vay chỉ một hình thức của tín dụng ngân hàng,nhƣ vậy nội dung tín dụng là rộng hơn nội dung cho vay, tuy nhiên trong hoạt động tín dụng, thì cho vay là hoạt động quan trọng và chiếm tỷ trọng lớn nhất tại các ngân hàng.
Các hình thức cấp tín dụng của ngân hàng thương mại Theo Điều 98 của Luật các TCTD số 47/2010/QH12 thì NHTM có các hình thức cấp tín dụng chính nhƣ sau: Thứ nhất:Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi. Thứ hai: Bao thanh toán là hình thức cấp tín dụng cho bên bán hàng hoặc bên mua hàng thông qua việc mua lại có bảo lƣu quyền truy đòi các khoản phải thu hoặc các khoản phải trả phát sinh từ việc mua, bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ theo hợp đồng mua, bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ. Thứ ba:Bảo lãnh ngân hàng là hình thức cấp tín dụng, theo đó TCTD cam kết với bên nhận bảo lãnh về việc TCTD sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng khi khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đã cam kết; khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho TCTD theo thỏa thuận. Thứ tư:Chiết khấu là việc mua có kỳ hạn hoặc mua có bảo lƣu quyền truy đòi các công cụ chuyển nhƣợng, giấy tờ có giá khác nhau của ngƣời thụ hƣởng trƣớc khi đến hạn thanh toán.
Thứ năm:Tái chiết khấu là việc chiết khấu các công cụ chuyển nhƣợng, giấy tờ có giá khác đã đƣợc chiết khấu trƣớc khi đến hạn thanh toán. 7 Thứ sáu:Phát hành thẻ tín dụngvà các hình thức cấp tín dụng khác sau khi đƣợc Ngân hàng Nhà nƣớc chấp thuận. Đặc điểm hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại Hoạt động tín dụng của ngân hàng thƣơng mại có 5 đặc điểm của hoạt động tín dụng nói chung nhƣ sau: Thứ nhất, hoạt độngtín dụng của NHTM dựa trên cơ sở lòng tin, ngân hàng chỉ cấp tín dụng khi có lòng tin vào việc khách hàng sử dụng vốn vay đúng mục đích, hiệu quả và có khả năng hoàn trả nợ vay (gốc, lãi) đúng hạn; còn ngƣời đi vay tin tƣởng vảo khả năng kiếm đƣợc tiền trong tƣơng lai để trả nợ gốc và lãi vay,đây là đặc điểm quan trọng nhất, từ đó tạo ra các đặc điểm tiếp theo. Do đó, trong các quyết định cho vay, ngân hàng sắp xếp thứ tự ƣu tiên của các tiêu chí nhƣ sau:uy tín, thiện chí của ngƣời vay;tính khả thi của dự án hoặc phƣơng án kinh doanh;bảo đảm tiền vay.
Thứ hai, hoạt động tín dụng là hoạt độngchuyển nhƣợng một tài sản có thời hạn hay có tính hoàn trả,ngân hàng là trung gian tài chính “đi vay để cho vay”, nên mọi khoản tín dụng của ngân hàng đều phải có thời hạn, đảm bảo cho ngân hàng hoàn trả vốn huy động,để xác định thời hạn cho vay hợp lý, ngân hàng phải căn cứ vào tính chất thời hạn nguồn vốn của mình và quá trình luân chuyển vốn của đối tƣợng vay,nếu ngân hàng có nguồn vốn dài hạn ổn định, thì có thể cấp đƣợc nhiều tín dụng dài hạn và ngƣợc lại nếu nguồn vốn không ổn định và kỳ hạn ngắn, mà cấp nhiều tín dụng dài hạn thì sẽ gặp rủi ro thanh khoản. Mặt khác, thời hạn cho vay phải phù hợp với chu kỳ luân chuyển vốn của đối tƣợng vay thì ngƣời vay mới có điều kiện trả nợ đúng hạn,nếu ngân hàng xác định thời hạn vay ngắn hạn hơn chu kỳ luân chuyển vốn của đối tƣợng vay, thì khách hàng không có đủ nguồn để trả nợ khi đến hạn, gây khó khăn cho khách hàng.