phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn gồm 4 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1. Tổng quan nghiên cứu và những vấn đề chung vềquản lý hoạt động mua và xử lý nợ. Phƣơng pháp và thiết kế nghiên cứu. Thực trạng quản lý hoạt động mua và xử lý nợ xấu tại DATC.
Phƣơng hƣớng và giải pháp hoàn thiện quản lý hoạt động mua và xử lý nợ xấu tại DATC. 4 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU, NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG MUA VÀ XỬ LÝ NỢ 1. Tổng quan nghiên cứu 1. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài Xử lý nợ xấu là một trong những nhiệm vụ quan trọng, cấp thiết của nhiều quốc gia, nhằm giải quyết hậu quả và ứng phó với khủng hoảng tài chính.
Vì vậy, công tác xử lý nợ xấu đã đƣợc nhiều tác giả trong và ngoài nƣớc quan tâm nghiên cứu, trong đó tiêu biểu là: 1. - Bài báo“Coorporate sector Restructuring, The Role of Government in Times of Crisis” của tác giả Mark R.Stone (2002) đăng trên Tạp chí Economic issues No.31, International Monetary Fund. Trong bài viết, tác giả nêu rõ chính phủ phải đóng vai trò hàng đầu trong việc tái cơ cấu doanh nghiệp quy mô lớn trong giai đoạn khủng hoảng. Để chính sách tái cơ cấu doanh nghiệp thành công thì phải thực hiện theo trình tự: đầu tiên chính phủ phải xây dựng chính sách kinh tế vĩ mô và pháp lý nhƣ cải cách hệ thống pháp lý và thuế để đặt nền tảng cho tái cơ cấu thành công, sau đó thiết lập các ƣu đãi thích hợp cho các ngân hàng nhƣ bán nợ xấu cho công ty mua bán nợ và tái cấp vốn để khơi thông dòng vốn tín dụng, cuối cùng là đến tái cơ cấu doanh nghiệp.
Luận văn này kế thừa những quan điểm nêu trên của tác giả để có giải pháp cải cách hệ thống pháp lý của Việt Nam nhƣ: ban hành chính sách miễn, giảm thuế tồn đọng đối với những doanh nghiệp thuộc diện tái cơ cấu, tạo điều kiện để hoạt động xử lý nợ thông qua tái cơ cấu doanh nghiệp của DATC đƣợc thuận lợi. - Bài báo “The Role of KAMCO in Resolving Nonperforming Loans in the Republic of Korea” của tác giả Dong He (2004) đăng trên Tạp chí IMF Working Paper No WP/04/172, International Monetary Fund. Trong bài viết, tác giả đã nêu tƣơng đối đầy đủ các phƣơng pháp xử lý nợ xấu của công ty mua bán nợ nhƣ: bán tài sản thế chấp, cơ cấu lại nợ, thu nợ từ khách nợ, bán đấu giá nợ, chứng khoán hóa nợ xấu. Tuy nhiên, tác giả chƣa làm rõ nội dung của từng phƣơng pháp xử lý nợ.
Các hạn chế này sẽ đƣợc tiếp tục nghiên cứu trong luận văn này. 5 - Bài báo “Xử lý nợ tồn đọng doanh nghiệp thúc đẩy tái cơ cấu kinh tế: Kinh nghiệm Hàn Quốc và bài học với Việt Nam” của tác giả Phạm Mạnh Thƣờng (2005) đăng trên Tạp chí Những vấn đề kinh tế và chính trị thế giới số 10 (114) trang 23-37. Trong phần thứ hai của bài viết, tác giả đã trình bày hoạt động mua và xử lý nợ xấu của Công ty quản lý tài sản Hàn Quốc (KAMCO) trong giai đoạn khủng hoảng tài chính năm 1997-1998 tại Hàn Quốc. Về định giá mua nợ xấu, giai đoạn trƣớc tháng 7/1998 do chƣa có thị trƣờng và do yêu cầu phải xử lý nhanh nợ xấu nên KAMCO sử dụng phƣơng pháp đơn giản để mua nợ xấu nhanh nhằm tăng cƣờng thanh khoản cho các định chế tài chính, giá mua nợ đối với nợ có tài sản thế chấp từ 70% đến 75% giá trị hợp lý của tài sản thế chấp (giá trị hợp lý của tài sản thế chấp là giá thấp nhất khi so sánh 3 loại giá nhƣ sau: “giá thẩm định – nghĩa vụ trả nợ ƣu tiên”, giá trị sổ sách của nợ xấu và giá trị tài sản thế chấp tối đa), đối với nợ không có tài sản thế chấp thì giá mua nợ từ 10% đến 20% giá trị sổ sách đối với nợ nghi ngờ (nợ nhóm 4), giá mua nợ từ 1% đến 3% giá trị sổ sách đối với nợ có khả năng mất vốn (nợ nhóm 5); từ tháng 8/1998 đến tháng 7/1999 KAMCO tính giá mua nợ tƣơng đƣơng 45% giá trị thanh lý của tài sản thế chấp, đối với nợ không có tài sản thế chấp thì giá mua nợ khoảng 3% giá trị sổ sách; từ tháng 7/1999 KAMCO tính giá mua nợ theo giá trị hiện tại của dòng tiền thu hồi dự tính theo một tỷ suất chiết khấu hợp lý.
Về phƣơng pháp xử lý nợ, tác giả chỉ nêu khái quát các biện pháp xử lý nợ xấu của KAMCO nhƣ bán nợ thông qua đấu thầu quốc tế, chứng khoán hóa nợ, tịch biên và bán đấu giá tài sản thế chấp, thu hồi nợ, bán nợ cho các nhà đầu tƣ, bán nợ cho các AMC, bán nợ cho các công ty tái cơ cấu (CRC), chứng khoán hóa nợ xấu, tác giả chƣa trình bày nội dung của các phƣơng pháp xử lý nợ. Luận văn sẽ tiếp tục nghiên cứu để trình bày các nội dung phƣơng pháp xử lý nợ của công ty mua bán nợ. - Bài báo “Thực trạng nợ xấu tại các ngân hàng Việt Nam và giải pháp tháo gỡ” của tác giả Nguyễn Thị Mùi (2012) đăng trên Tạp chí Tài chính số 11 trang 6 Trong bài viết, tác giả đã đánh giá thực trạng nợ xấu tại các NHTM Việt Nam và đề xuất các cơ chế xử lý nợ xấu của NHTM nhƣ trích lập dự phòng rủi ro theo quy 6 định, phát mại tài sản bảo đảm để thu hồi nợ, chủ động phối hợp với khách nợ để cơ cấu lại nợ, giãn thời gian trả nợ đối với khách hàng có khó khăn tài chính tạm thời nhƣng có triển vọng kinh doanh, giảm lãi suất và cho vay vốn mới nhằm giúp doanh nghiệp tiêu thụ đƣợc sản phẩm để có điều kiện trả nợ, bán nợ cho các AMC và DATC. Luận văn này kế thừa những cơ chế xử lý nợ xấu của NHTM do tác giả đề xuất để vận dụng vào trƣờng hợp xử lý nợ xấu tại Công ty mua bán nợ.
- Bài báo “Lựa chọn mô hình xử lý nợ xấu ở Việt Nam” của tác giả Nguyễn Thị Kim Thanh (2012) đăng trên Tạp chí Tài chính số 11-2012 trang 14-20. Trong bài viết, tác giả đã đánh giá thực trạng nợ xấu của các NHTM Việt Nam và một số giải pháp xử lý nợ xấu NHNN đã và đang thực hiện, đồng thời tác giả đã đề xuất một số giải pháp để xử lý nợ xấu của NHTM Việt Nam dựa trên kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới nhƣ: chính phủ hỗ trợ nguồn vốn ban đầu cho công ty mua bán nợ để xử lý nợ xấu; trao quyền lực rõ ràng cho công ty mua bán nợ nhƣ quyền tịch thu tài sản, quyền khôi phục lại hoạt động của doanh nghiệp khách nợ để tối đa hóa giá trị thu hồi nợ xấu; áp dụng các biện pháp xử lý nợ xấu phù hợp với trình độ phát triển của thị trƣờng tài chính nhƣ chuyển nợ xấu thành vốn cổ phần, chứng khoán hóa nợ xấu, bán nợ xấu trực tiếp cho các nhà đầu tƣ. Luận văn này kế thừa những nghiên cứu của tác giả về các biện pháp xử lý nợ xấu nêu trên. - Bài báo “Trả giá vì chậm phản ứng nợ xấu, bài học từ Nhật Bản” của tác giả Phan Hoài Hiệp (2012) đăng trên Tạp chí Đầu tƣ chứng khoán số 145 (1241) trang 22-23.
Trong bài viết, tác giả đã phân tích: khi nợ xấu của hệ thống các TCTD tăng cao trong thập niên 1990, Nhật Bản đã thành lập Công ty xử lý và thu hồi nợ (RCC), Công ty tái thiết công nghiệp (IRCJ) và các Quỹ tái thiết tƣ nhân để mua lại nợ xấu của các tổ chức tài chính. Để xử lý nợ xấu, RCC đã áp dụng các biện pháp nhƣ bán tài sản bảo đảm, lấy tài sản bảo đảm để đầu tƣ làm tăng giá trị rồi bán lại cho nhà đầu tƣ, thu nợ trực tiếp từ khách nợ, bán nợ. Nhiệm vụ của IRCJ là mua lại các khoản nợ xấu có giá trị lớn để tái cơ cấu, phục hồi doanh nghiệp thông qua các biện pháp nhƣ xóa bớt nợ cho doanh nghiệp, bán tài sản không sinh lời của doanh nghiệp để thu nợ, giảm vốn của doanh nghiệp, chuyển nợ xấu thành vốn cổ phần, tái 7 thiết hoạt động của doanh nghiệp, cử ngƣời trực tiếp quản lý điều hành doanh nghiệp. Sau khi doanh nghiệp hoạt động ổn định thì IRCJ chuyển nhƣợng vốn cổ phần và bán nợ cho nhà đầu tƣ khác.
Tuy nhiên, trong bài báo tác giả chƣa trình bày nội dung các biện pháp xử lý nợ của công ty mua bán nợ. Luận văn này kế thừa những quan điểm của tác giả về các biện pháp xử lý nợ của công ty mua bán nợ nhƣ bán tài sản bảo đảm, thu nợ trực tiếp, bán nợ, các biện pháp tái cơ cấu để phục hồi doanh nghiệp và sẽ nghiên cứu để làm rõ nội dung của các biện pháp xử lý nợ này của các công ty mua bán nợ. - Bài báo “Hiện trạng thị trƣờng mua bán nợ Việt Nam và chính sách phát triển” của tác giả Đào Duy Huân (2013) đăng trên Tạp chí Phát triển và Hội nhập số 8 trang 21-26. Trong phần một của bài viết, tác giả đã lập luận hoạt động mua bán nợ xấu là lối thoát cho các doanh nghiệp đang gặp khó khăn trong hoạt động SXKD, thoát khỏi khủng hoảng, khi nợ xấu đƣợc xử lý sẽ ổn định tài chính trong nƣớc và nâng cao sức cạnh tranh cho các định chế tài chính.
Luận văn này kế thừa những lý luận về xử lý nợ xấu thông qua hoạt động mua bán nợ theo trình bày của tác giả. Trong phần hai và phần ba của bài viết, tác giả đánh giá thực trạng nợ xấu tại Việt Nam hiện nay đáng báo động, trong khi đó thị trƣờng mua bán nợ tại Việt Nam chƣa phát triển, năng lực tài chính của các AMC trực thuộc NHTM còn hạn chế. Trong phần bốn của bài viết, tác giả đề xuất một số chính sách nhằm hình thành và phát triển thị trƣờng mua bán nợ Việt Nam. Luận văn này kế thừa các đề xuất của tác giả nhằm tạo điều kiện cho thị trƣờng mua bán nợ phát triển nhƣ miễn các loại thuế cho các hoạt động mua bán nợ, xã hội hóa hoạt động mua bán nợ, phát triển thị trƣờng trái phiếu.