phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm ba chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động kinh doanh thẻ của ngân hàng thƣơng mại. Chƣơng 2: Đánh giá thực trạng quản lý hoạt động kinh doanh thẻ tại Ngân hàng TMCP Kỹ Thƣơng Việt Nam. Chƣơng 3: Giải pháp nhằm tăng cƣờng công tác quản lý hoạt động kinh doanh thẻ tại Ngân hàng TMCP Kỹ Thƣơng Việt Nam. 5 Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH THẺ CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.
Khái quát chung về hoạt động kinh doanh thẻ Ngân hàng 1. Khái niệm, đặc điểm cấu tạo và phân loại thẻ * Khái niệm hoạt động kinh doanh thẻ: Thông thƣờng, kinh doanh đƣợc hiểu là hoạt động của cá nhân hay tổ chức nhằm mục đích lợi nhuận thông qua một loạt các hoạt động nhƣ:Quản trị, Tiếp thị, Tài chính, Kế toán, Sản xuất,.Còn trong hoạt động ngân hàng, kinh doanh thẻ đƣợc hiểu là toàn bộ các hoạt động từ khâu nghiên cứu thị trƣờng nhằm phát hiện nhu cầu,trên cơ sở đó xây dựng các quy trình, quy định, đặc điểm của sản phẩm thẻ cho phù hợp, từ đó triển khai thực hiện, đáp ứng tốt nhất nhu cầu của thị trƣờng nhằm thu về lợi nhuận tối ƣu cho ngân hàng. * Khái niệm thẻ thanh toán: Thẻ thanh toán đƣợc cung cấp bởi Ngân hàng hoặc các công ty lớn. Thẻ đƣợc dùng để thanh toán tiền hàng hóa dịch vụ mà không dùng tiền mặt.
Thẻ cũng đƣợc dùng để rút tiền mặt tại các ngân hàng đại lý hoạc các máy rút tiền tự động. Số tiền thanh toán hay rút ra phải nằm trong phạm vi số dƣ tài khoản tiền gửi hoặc hạn mức tín dụng đƣợc ngân hàng cấp. * Đặc điểm cấu tạo của thẻ: Thẻ đƣợc làm bằng nhựa cứng, hình chữ nhật với kích thƣớc 9,6 cm x 5,4 cm x 0,076 cm. Mặt trƣớc của thẻ có tên của tổ chức phát hành thẻ (ví dụ: Techcombank), số thẻ, ngày hiệu lực và hết hiệu lực của thẻ, họ và tên chủ thẻ, số mật mã của ngày phát hành.
Ngoài ra con một đặc điểm không thể thiếu đó là biểu tƣợng riêng của tổ chức thẻ quốc tế. Riêng số thẻ, ngày hiệu lực và hết hiệu lực của thẻ, tên trên thẻ đƣợc in nổi. Mặt sau thẻ là dải băng từ 6 có khả năng lƣu giữ thông tin cần thiết, phía dƣới băng từ là dải ô chữ ký của chủ thẻ. * Phân loại: - Phân loại thẻ theo công nghệ Thẻ khắc chữ nổi: Các thông tin cần thiết đƣợc khắc nổi lên bề mặt của thẻ.
Tấm thẻ đầu tiên đã đƣợc sản xuất theo công nghệ này. Hiện nay ngƣời ta không sử dụng thẻ loại này nữa vì kỹ thuật sản xuất quá thô sơ, dễ bị làm giả. Thẻ băng từ: Đƣợc sản xuất dựa trên kĩ thuật từ tính với một băng từ chứa hai rãnh thông tin ở mặt sau của thẻ. Thẻ này đƣợc sử dụng phổ biến trong vòng 20 năm nay.
Tuy nhiên, do thẻ mang tính thông tin cố định, khu vực chứa thông tin hẹp không áp dụng đƣợc các kĩ thuật mã bảo đảm an toàn, thông tin trong thẻ không tự mã hoá đƣợc, ngƣời ta có thể đọc thẻ dễ dàng bằng thiết bị đọc gắn với máy vi tính nên có thể bị lợi dụng để lấy cắp tiền. Thẻ điện tử có bộ vi xử lí chip (thẻ thông minh): Đây là thế hệ mới nhất của thẻ, dựa trên kĩ thuật vi xử lí tin học. Thẻ đƣợc gắn một chip điện tử có cấu trúc giống nhƣ một máy tính hoàn hảo. Thẻ thông minh có nhiều nhóm với dung lƣợng nhớ của chip điện tử khác nhau, có tính an toàn và bảo mật rất cao.
Nhƣng do giá thành cao, hệ thống máy móc chấp nhận thẻ đắt nên việc sử dụng thẻ này còn chƣa phổ biến nhƣ thẻ từ. Việc phát hành và chấp nhận thẻ thông minh mới chỉ phổ biến ở các nƣớc phát triển dù các tổ chức thẻ vẫn đang khuyến khích các ngân hàng thành viên đầu tƣ để phát hành và chấp nhận loại thẻ này nhằm giảm tỷ lệ rủi ro do giả mạo thẻ. - Phân loại thẻ theo tính chất thanh toán Thẻ tín dụng: Là loại thẻ đƣợc sử dụng phổ biến nhất, theo đó ngƣời chủ thẻ đƣợc phép sử dụng một hạn mức tín dụng tuần hoàn để mua sắm hàng hoá, dịch vụ tại những cơ sở chấp nhận loại thẻ này. Thẻ tín dụng thƣờng do 7 ngân hàng phát hành và thƣờng đƣợc quy định một hạn mức tín dụng nhất định trên cơ sở khả năng tài chính, tài sản thế chấp của chủ thẻ.
Chủ thẻ chỉ đƣợc phép chi tiêu trong phạm vi hạn mức đã cho và phải thanh toán cho ngân hàng phát hành thẻ theo kỳ hàng tháng, lãi suất tín dụng tuỳ thuộc vào quy định của mỗi ngân hàng phát hành. Thẻ tín dụng đƣợc coi là một công cụ tín dụng trong lĩnh vực cho vay tiêu dùng. Thẻ ghi nợ: Có quan hệ trực tiếp và gắn liền với tài khoản tiền gửi của chủ thẻ. Chủ thẻ cũng có thể đƣợc ngân hàng cấp cho một mức thấu chi theo sự thoả thuận giữa hai bên.
Những giao dịch thực hiện bằng thẻ này sẽ đƣợc khấu trừ vào tài khoản của chủ thẻ và ghi có vào tài khoản của cơ sở chấp nhận thẻ (CSCNT). Thẻ ghi nợ có hai loại cơ bản là thẻ on-line và thẻ off- line. Thẻ on-line là thẻ ghi nợ mà những thông tin về giao dịch đƣợc kết nối trực tiếp từ thiết bị điện tử đặt tại CSCNT hoặc điểm rút tiền mặt tới ngân hàng phát hành. Giá trị những giao dịch đƣợc khấu trừ ngay lập tức vào tài khoản chủ thẻ.
Thẻ off-line là thẻ mà thông tin giao dịch đƣợc lƣu tại máy điện tử của CSCNT và đƣợc chuyển đến ngân hàng phát hành muộn hơn (không có kết nối trực tiếp với điểm thanh toán). Giá trị những giao dịch sẽ đƣợc khấu trừ vào tài khoản chủ thẻ sau đó vài ngày. Thẻ rút tiền mặt: Về bản chất, đây cũng là một loại của thẻ ghi nợ nhƣng thẻ này chỉ đƣợc dùng để rút tiền mặt tại các ngân hàng, các máy rút tiền tự động (ATM) và sử dụng các dịch vụ khác do máy ATM cung cấp nhƣ kiểm tra số dƣ, chuyển khoản, chi trả các khoản vay,. Với chức năng chuyên biệt chỉ dùng để rút tiền, số tiền rút ra mỗi lần sẽ đƣợc trừ dần vào số tiền kí quĩ.
Thẻ rút tiền mặt có hai loại. Một loại chỉ đƣợc dùng để rút tiền mặt tại những máy rút tiền tự động của ngân hàng phát hành, còn loại kia ngoài địa điểm trên còn đƣợc sử dụng để rút tiền ở các ngân hàng cùng tham gia tổ hợp thanh toán với ngân hàng phát hành thẻ. 8 - Phân loại thẻ theo phạm vi lãnh thổ Thẻ thanh toán nội địa: Chỉ đƣợc sử dụng trong phạm vi quốc gia mà nó đƣợc phát hành, do đó đồng tiền đƣợc sử dụng và thanh toán là đồng bản tệ. Loại thẻ này chỉ do một tổ chức hoặc một ngân hàng điều hành và có hai loại.
Một loại do tổ chức tài chính hoặc ngân hàng trong nƣớc phát hành và chỉ đƣợc sử dụng trong nội bộ hệ thống tổ chức đó. Loại thứ hai là thẻ mang thƣơng hiệu của tổ chức thẻ quốc tế nhƣng đƣợc phát hành để sử dụng trong nƣớc. Thẻ thanh toán quốc tế: Là loại thẻ đƣợc sử dụng trên phạm vi quốc tế, dùng ngoại tệ mạnh làm đồng tiền thanh toán. Thẻ quốc tế đƣợc hỗ trợ và quản lý trên toàn thế giới bởi những tổ chức tài chính lớn nhƣ Visa, Master hoặc công ty điều hành hoạt động thống nhất và đồng bộ.
Thẻ quốc tế đƣợc ƣa chuộng bởi tính an toàn, tiện lợi của nó. Các chủ thể tham gia vào quá trình phát hành và thanh toán Thẻ ngân hàng Các đối tƣợng tham gia vào quá trình phát hành và thanh toán thẻ đƣợc quy định trong quyết định 371/1999/QĐ-NHNN1 ngày 19 tháng 10 năm 1999 của thống đốc NHNN về việc ban hành quy chế phát hành, sử dụng và thanh toán Thẻ ngân hàng bao gồm: * Tổ chức thẻ quốc tế là tổ chức đứng ra liên kết với các thành viên, đặt ra các qui định bắt buộc đối với các thành viên phải áp dụng và tuân theo thống nhất thành một hệ thống toàn cầu. Bất cứ ngân hàng nào hiện nay hoạt động trong lĩnh vực thẻ thanh toán quốc tế đều phải gia nhập vào ít nhất là một tổ chức thẻ quốc tế. Tổ chức thẻ đƣợc tổ chức dƣới hai hình thức: hiệp hội và ngân hàng (hay công ty).
Hình thức hiệp hội: do một nhóm ngân hàng liên kết với nhau thành lập ra. Hiệp hội soạn thảo các quy định riêng về cách tổ chức, cấp phép, bù trừ, thanh toán áp dụng cho tất cả các thành viên của hiệp hội, đồng thời tổ chức 9 về vấn đề cạnh tranh trên thị trƣờng và vấn đề pháp lý. Hiệp hội không trực tiếp phát hành thẻ mà giao việc này cho các ngân hàng thành viên và thu phí thƣờng niên. Điển hình của loại hình này là các tổ chức Visa và Master.
Hình thức ngân hàng (hay công ty): do một hoặc hai ngân hàng hay công ty đứng ra tổ chức và độc quyền phát hành loại thẻ của họ. Họ trực tiếp phát hành thẻ và đứng ra quản lý chủ thẻ. Việc mở rộng thị trƣờng đƣợc thực hiện bằng cách lập ra các chi nhánh hay văn phòng đại diện phát hành thẻ, do vậy phạm vi hoạt động thƣờng nhỏ hơn so với hình thức hiệp hội. JCB và American Express là điển hình của hình thức tổ chức này.
* Ngân hàng phát hành thẻ: là thành viên chính thức của tổ chức thẻ và đƣợc phép phát hành thẻ. Ngân hàng này có trách nhiệm tiếp nhận, xử lý hồ sơ xin cấp thẻ, thiết kế các tiêu chuẩn kĩ thuật, mật mã, kí hiệu,. cho các loại thẻ để bảo đảm an toàn trong quá trình sử dụng thẻ, sau đó phát hành thẻ cho khách hàng, mở và quản lí tài khoản thẻ, chịu trách nhiệm việc thanh toán số tiền mà khách hàng trả cho ngƣời bán bằng thẻ. * Ngân hàng thanh toán thẻ (NHTTT): là thành viên chính thức hoặc thành viên liên kết của tổ chức thẻ và/ hoặc các ngân hàng đƣợc ngân hàng phát hành thẻ uỷ quyền thực hiện nghiệp vụ thanh toán thẻ.
* Ngân hàng đại lí thanh toán thẻ: là ngân hàng đƣợc NHTTT uỷ quyền thực hiện một số dịch vụ thanh toán thẻ thông qua hợp đồng ngân hàng đại lí. Ngân hàng đại lí có nhiệm vụ trả tiền cho cơ sở chấp nhận thẻ khi nhận đƣợc biên lai thanh toán, trả tiền mặt theo yêu cầu của chủ sở hữu thẻ, nhận chuyển tiếp số tiền thanh toán bằng thẻ đến bên bán.