CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO PHỤ NỮ NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề Quản lý hoạt động giáo dục pháp luật là một trong những vấn đề quan trọng trong Lý luận về nhà nước và pháp luật. Các công trình nghiên cứu về giáo dục pháp luật nhận được rất nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu và tác giả cùng ngành. Dưới đây là một số công trình tiêu biểu về giáo dục pháp luật và quản lý hoạt động giáo dục pháp luật Strelaieva Giáo dục pháp luật trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền [39] nêu rõ giáo dục lại về pháp luật là một quá trình rèn luyện tư duy phức hợp, bao gồm việc khắc phục những phán đoán, đánh giá sai lầm của cá nhần nhằm hướng tới sửa chữa các hành vi tiêu cực, bất lợi với con người.
Malưko, Lý luận nhà nước và pháp luật [24]. Trong cuốn giáo trình này, tác giả dành riêng chuyên đề số 28 để luận bàn về GDPL và ý thức pháp luật. Theo các tác giả, GDPL là hoạt động có chủ đích của nhà nước, tổ chức và các cá nhân nhằm hình thành các quan niệm, truyền đạt các kinh nghiệm về pháp luật, đảm bảo cho việc thực hiện và sử dụng pháp luật trong xã hội. GDPL trang bị các kiến thức, kỹ năng về pháp luật cho mọi người để hiểu và chấp hành pháp luật hợp pháp.
GDPL gồm 05 các yếu tố là chủ thể, đối tượng, nội dung, phương pháp và hình thức. Lý luận nhà nước và pháp luật, Tập thể tác giả [23] Giáo dục pháp luật ở Liên bang Nga,. Căn cứ vào các tài liệu tổng quan về GDPL, các tác giả đã đi đến kết luận về GDPL như sau: GDPL hình thành nên thái độ và cách ứng xử tôn trọng luật pháp. GDPL có liên quan mật thiết đến việc phát triển tình cảm, trách nhiệm của mỗi cá nhân trong vấn đề thượng tôn pháp luật.
Ngoài ra, có thể kể thêm một số công trình nghiên cứu có cùng chủ đề 7 GDPL, Theo Giáo trình lý luận về Nhà nước và pháp luật của một số nhà nghiên cứu và đào tạo trong nước GDPL được định nghĩa là: “là hoạt động có định hướng, có mục đích trang bị kiến thức pháp luật, nhằm hình thành ở đối tượng được giáo dục những tình cảm pháp lý và hành vi phù hợp với yêu cầu của pháp luật” [28, tr. Như vậy, hai hướng tiếp cận này có điểm chung khi xác định mục tiêu của GDPL. Có thể thấy rằng Giáo dục pháp luật cũng là một vấn đề mang tính cấp thiết ở nước ta trong giai đoạn hiện nay. "Nâng cao ý thức pháp luật của đội ngũ cán bộ quản lý hành chính nhà nước hiện nay", Luận án tiến sĩ của Lê Đình Khiên, 1993 [20]; "Xây dựng ý thức và lối sống theo pháp luật"., Đào Trí Úc chủ biên, Hà Nội, 1995 [51] đã bàn luận về ý thức pháp luật của các tầng lớp xã hội và đề xuất các giải pháp xây dựng lối sống pháp luật.
Việc tăng cường công tác GDPL cho công dân, bao gồm cả đội ngũ CBCC nhà nước cũng cần phải đặc biệt quan tâm. "Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về giáo dục pháp luật trong công cuộc đổi mới", của Viện Nghiên cứu Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp, Hà Nội, 1998 [55], nêu rõ công tác GDPL là một trong những yêu cầu cấp thiết trong công cuộc đổi mới toàn diện ở nước ta hiện nay, bên cạnh các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội. Thông qua việc phân tích, lý giải về hình thức GDPL, tác giả đã tổng kết, khát quát ba vấn đề sau: quan niệm thứ nhất không thừa nhận GDPL, quan niệm thứ hai xem nhẹ vai trò của GDPL, quan niệm thứ ba đơn giản hoá, cho rằng GDPL đã được lồng ghép trong các văn bản pháp luật. Trên cơ sở đó, tác giả cũng đề xuất cắc kiến nghị nhằm phát huy hiệu quả và vai trò của GDPL.
Luận án tiến sĩ Luật học của Đinh Xuân Thảo, 1996 [44], Luận án này đã trình bày rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn của GDPL đồng thời đề xuất các phương hướng giải quyết để thực hiện tốt công tác GDPT trong các nhà 8 trường. Đối với việc GDPT cho đồng bào các dân tộc, Dương Thành Trung trong luận án tiến sĩ luật học đã nghiên cứu và làm rõ vấn đề GDPT cho đồng bào Khme ở vùng đồng bằng sông Cửu Long. Các công trình đã trình bày hệ thống những khái niệm cơ bản về phụ nữ và những vấn đề của phụ nữ, phân tích mối quan hệ giữa bình đẳng giới và phát triển xã hội. Bằng những tư liệu phong phú và những kết quả nghiên cứu mới nhất các tác giả đã cho thấy bức tranh đa dạng nhiều vẻ về vị trí, vai trò, vị thế của phụ nữ trong sự nghiệp đổi mới của đất nước ta hiện nay.
Trong các cuốn sách này, chủ yếu các tác giả đi sâu vào vấn đề bình đẳng giới, chưa đi trực tiếp vào vấn đề phát triển NNL, tuy nhiên bình đẳng giới cũng là một trong những yếu tố để thúc đẩy nguồn nhân lực phát triển theo hướng bền vững, đảm bảo ổn định xã hội, đây cũng là vai trò của phát triển nguồn nhân lực. Các tác giả cũng đã vận dụng quan điểm của Đảng, Nhà nước và quan điểm tiếp cận giới vào xem xét các vấn đề liên quan đến bình đẳng giới. Trên cơ sở đó, các tác giả đề xuất một số ý kiến về một số chính sách xã hội để thực hiện bình đẳng giới trong thời kỳ đổi mới ở Việt Nam. Các nghiên cứu trên đã trên đề cập tới các vấn đề khác nhau, trình bày được một cách cơ bản nhất những vấn đề lý luận và thực tiễn của hoạt động GDPL trên nhiều góc độ, đồng thời đưa ra được một số những đề xuất nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng GDPL cho công dân, cán bộ quản lý các cấp.
Tuy nhiên, các công trình chưa thực sự đưa ra được một nghiên cứu có chiều sâu, mang tính hệ thống nhằm quản lý hoạt động GDPL với nhóm đối tượng là phụ người người dân tộc thiểu số. Hoạt động giáo dục pháp luật cho phụ nữ dân tộc thiểu số Trong Bài viết trên Tạp chí cộng sản “Bảo đảm quyền học tập của người dân tộc thiểu số ở Việt Nam - Thực trạng và những kiến nghị” của ThS. Đào Thị Tùng - Học Viện Chính trị khu vực III, Học viện chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh đã nói lên hoạt động giáo dục cho người dân tộc thiểu số nói 9 chung luôn nhận được sự quan tâm hỗ trợ, đầu tư đặc biệt ở các vùng đồng bào dân tộc thiểu số, chỉ ra được thực trạng và giải pháp để nâng cao có hiệu quả công tác giáo dục cho người DTTS. Qua Báo cáo tổng kết việc thi hành pháp luật về lĩnh vực dân tộc của Ủy ban Dân tộc năm 2017 [48] “Kết quả Điều tra thu thập thông tin về hiện trạng kinh tế - xã hội của 53 Dân tộc thiểu số năm 2019” của Tổng cục Thống kê, có thể thấy rõ sự quan tâm của Đảng và nhà nước đối với công tác giáo dục người DTTS trong mọi giai đoạn phát triển của đất nước.
Đất nước ta với nhiều anh em dân tộc cùng sinh sống, đời sống của người dân nói chung, phụ nữ nói riêng còn gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là phụ nữ vùng dân tộc thiểu số, khu vực biên giới. Những năm qua, Đảng và Nhà nước đã triển khai đồng bộ nhiều giải pháp, chính sách chăm lo đời sống vật chất và tinh thần trong đồng bào các dân tộc đặc biệt là các hoạt động giáo dục đào tạo nâng cao trình độ, nhận thức cho người dân vùng DTTS. Công tác xây dựng, củng cố, nâng cao chất lượng đội ngũ thực hiện công tác GDPL cho phụ nữ DTTS luôn được các ngành, đặc biệt là Hội phụ nữ quan tâm triển khai thực hiện. Công tác tuyên truyền giáo dục pháp luật cho phụ nữ DTTS đã được triển khai thông qua các hội nghị tuyên truyền, tập huấn, bồi dưỡng; lồng ghép trong các cuộc họp cơ quan, đơn vị, sinh hoạt chi hội, câu lạc bộ; họp thôn, bản, tổ dân phố… Bên cạnh đó đã biên soạn, phát hành nhiều loại tài liệu tuyên truyền giáo dục pháp luật cho đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác giáo dục pháp luật, hội viên, phụ nữ DTTS và Nhân dân.
Với những hoạt động tích cực trong công tác GDPL đến nay nhận thức và hiểu biết về pháp luật của phụ nữ DTTS đã được nâng cao. Qua đó, giúp phụ nữ DTTS tích cực tham gia vào các công tác, hoạt động cộng đồng như giữ gìn vệ sinh, trật tự tại các tuyến đường, tổ dân phố, khu dân cư, bản; xây dựng các tổ 10 tuyên truyền, hỗ trợ pháp luật. Cùng với đó, tỷ lệ nữ tham gia cấp ủy, cơ quan bầu cử và nữ lãnh đạo quản lý ngày càng tăng, vai trò của phụ nữ ngày càng được khẳng định. Không những vậy, phụ nữ DTTS còn tích cực tham gia vào các hoạt động phát triển kinh tế, chia sẻ chiều kinh nghiệm sản xuất.
Qua đó, xuất hiện nhiều tấm gương điển hình trong phát triển kinh tế với những mô hình, hợp tác xã, doanh nghiệp… với thu nhập cao. Góp phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập và từng bước nâng cao đời sống của phụ nữ DTTS. Vậy hoạt động giáo dục pháp luật cho phụ nữ người DTTS là một quá trình tổ chức thực hiện xuyên suốt các nội dung, chương trình, kế hoạch hoạt liên quan đến kiến thức pháp luật động cho riêng đối tượng phụ nữ nữ người DTTS. Quản lý hoạt động giáo dục pháp luật cho phụ nữ dân tộc thiểu số H.Koontz cho rằng Quản lý là một hoạt động nhằm đảm bảo sự hợp tác giữa các cá nhân để đạt được mục tiêu của một tổ chức, một nhóm người.
Mục tiêu của quản lý là xây dựng một môi trường mà trong đó, con người có thể đạt được mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất [9, tr.