CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC KĨ NĂNG SINH TỒN CHO HỌC SINH Ở CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC THEO QUAN ĐIỂM PHỐI HỢP GIỮA NHÀ TRƯỜNG VÀ GIA ĐÌNH 1. Tổng quan nghiên cứu về đề tài 1. Nghiên cứu về giáo dục kĩ năng sinh tồn 1. Nghiên cứu ngoài nước KNST và vấn đề GDKNST cho con người nói chung và cho HS nói riêng đã xuất hiện và được quan tâm từ xa xưa trong quá trình đối phó với thiên nhiên như thiên tai, hỏa hoạn, cháy nổ… hay đối phó với các tình huống cấp bách để thoát hiểm.
Đó là những kĩ năng đơn giản nhất mang tính kinh nghiệm để phù hợp với con người trong từng giai đoạn hay thời kỳ xã hội khác nhau. Nghiên cứu kĩ năng ở mức độ khái quát của các tác giả có P.Galperin nói về sự hình thành tri thức và kĩ năng tư duy trong cuộc sống. Các tác giả nghiên cứu đã chỉ ra phương pháp hướng dẫn con người có kĩ năng để thoát hiểm, hỗ trợ trong tập thể hay với các nhân cần có những phương pháp tối thiểu để giảm thiểu rủi ro trong hoàn cảnh cấp bách [9]. Nghiên cứu kĩ năng ở mức độ cụ thể, Các tác giả chỉ ra tầm quan trọng của việc giáo dục KNST của học sinh, kĩ năng làm chủ cảm xúc, bình tĩnh và ứng phó với các sự cố nguy hiểm xảy ra.
Phương pháp chủ yếu trong giáo dục KNST là đưa ra các bài tập tình huống và giả định các phương pháp sẽ dùng khắc phục rủi ro [9]. Giáo dục KNST ở Lào được bắt đầu quan tâm từ năm 1997 với cách tiếp cận các giáo dục đào tạo về Phòng chống căn bệnh thế kỷ HIV và mở rộng sang ứng phó với các sự cố nguy hiểm xảy đến liên quan đến các vẫn đề về an sinh xã hội, môi trường, giáo dục giới tính…. 7 Giáo dục KNST ở Campuchia được xem xét dưới góc độ năng lực hướng tới cuộc sống sinh hoạt hàng ngày của con người tiềm ẩn những rủi ro gì và cách khắc phục. Ngoài ra GDKNST ở Campuchia còn hướng tới GD tại các trường học cho HS bằng các phương pháp trải nghiệm thực tế [14].
Giáo dục KNST ở Malaysia được xem xét và nghiên cứu dưới 3 góc độ: Các kĩ năng thao tác bằng tay, kĩ năng thương mại và đấu thầu, kĩ năng sinh tồn trong đời sống gia đình. GDKNST ở đây sử dụng phương pháp huấn luyện và giải quyết tình huống để truyền đạt tới con người [14]. Ở Bangladesh: Giáo dục KNST được khai thác dưới góc độ các kĩ năng hoạt động xã hội, kĩ năng phát triển, kĩ năng chuẩn bị cho tương lai. Nghiên cứu trong nước Nguyễn Thị Oanh nghiên cứu về KNST và giáo dục KNST cho tuổi vị thành niên theo tiếp cận KNS, tác giả đã làm rõ thực trạng nhận diện về KNS của HS và thực tạng GDKNS hiện nay trong trường học những KN cơ bản như kĩ năng làm chủ cảm xúc, bảo vệ bản thân, kĩ năng phòng tránh hỏa hoạn, đuối nước, ứng xử khi gặp người lại… Đồng thời tác giả cũng chỉ ra nguyên nhân cốt lõi khiến các em thiếu hụt những kĩ năng cơ bản trong cuộc sống hàng ngày và đưa ra những giải pháp tối ưu để các em có thể tự tin tự lập khi không có người thân bên cạnh [22].
Bộ Giáo dục - Đào tạo triển khai Dự án “Giáo dục sống khỏe mạnh, kĩ năng sống cho trẻ em và trẻ chưa thành niên trong và ngoài trường học” để nâng cao nhận thức cho đội ngũ giáo viên và học sinh về kĩ năng ứng phó với tình huống nguy hiểm, có lối sống an toàn, lành mạnh. Đề án nâng cao nhận thức về tầm quan trọng trong việc GDKNST cho lứa tuổi học sinh để các em hiểu về KNST là gì, vì sao cần nhận biết được những rủi ro và để ứng phó được khi gặp phải những rủi ro đó. Đồng thời đề án cũng nhấn mạnh cần đào tạo tốt đội ngũ GDKNST cho HS để giáo dục HS một cái bài bản và có chiều hướng chuyên sâu trong nhà trường [2]. 8 Nguyễn Thanh Bình (2009) nghiên cứu về kĩ năng sinh tồn và giáo dục kĩ năng sinh tồn cho học sinh THCS theo tiếp cận KNS.
Đề tài tiến hành khảo sát trên 8 tỉnh đại diện cho 3 miền Bắc, Trung, Nam trong cả nước về thực trạng nhận thức và kĩ năng của HS hầu như còn hời hợt và chưa tốt đồng thời làm rõ những hạn chế về kĩ năng tự bảo vệ bản thân; kĩ năng phòng tránh đuối nước, mưa giông, lũ quét… của học sinh khu vực miền núi. Tác giả đề xuất biện pháp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh THCS. Nguyễn Thị Hường (2009), nghiên cứu KNST bằng phương pháp tích hợp trong môn tự nhiên xã hội các kĩ năng cần thiết trong từng bài học và áp dụng các phương pháp xây dựng tình huống nguy hiểm có thể xảy ra trong cuộc sống hàng ngày như hỏa hoạn, đuối nước, sử dụng dụng cụ sắc nhọn… Tác giả đã đưa ra từng nội dung và phương pháp trong quá trình giáo dục KNST cho HS cũng như ứng phó với những tình huống nguy hiểm. Nguyễn Thị Tính (2010), nghiên cứu giáo dục kĩ năng sinh tồn cho học sinh tiểu học theo tiếp cận giáo dục kĩ năng sống cho học sinh tiểu học khu vực miền núi phía Bắc thông qua dạy học môn đạo đức.
Thông qua môn học, tác giả đã làm rõ thực trạng nhận thức và KNST của HS nơi đây. Thông qua đó đề xuất được các biện pháp giáo dục KNST cho HS phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương trên cơ sở giúp các em tự tin trong cuộc sống, làm chủ cuộc sống và ứng phó kịp thời với tình huống nguy hiểm khi có sự cố xảy ra. Từ năm học 2008-2009, Bộ Giáo dục Đào tạo nước ta đã phát động trong các trường phổ thông trên toàn quốc phong trào “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” để tăng tính giáo dục cho toàn thể đội ngũ trong nhà trường từ các thầy cô giáo đến học sinh nhằm tạo ra một môi trường giáo dục an toàn, có kĩ năng sáng tạo, hiệu quả để phát huy được giá trị cá nhân mỗi con người mang lại lợi ích cho địa phương và cho xã hội. Nghiên cứu về quản lý giáo dục kĩ năng sinh tồn 1.
Nghiên cứu ngoài nước Vào đầu thế kỷ 21 này, một số nước phương Tây đã chú ý đề cao hơn vai trò của gia đình trong việc kết hợp với nhà trường để giáo dục KNST cho HS. 9 Tại Anh, các nhà giáo dục cho rằng việc chăm sóc và giáo dục trẻ không chỉ riêng trách nhiệm từ một phía là gia đình hay nhà trường mà là trách nhiệm của cả hai phía, đó là sự kết hợp giữa gia đình và nhà trường trong việc nuôi dạy và giáo dục trẻ. Các nhà nghiên cứu khẳng định việc kết hợp giữa gia đình và nhà trường là phương pháp tối ưu nhất giúp trẻ phát triển toàn diện, đúng hướng và có sự đồng hành từ gia đình. Đồng thời nhà trường cần có những kết nối hướng dẫn về các nội dung chương trình KNS cho bố mẹ có thể GD con tại gia đình các kĩ năng cần thiết trong sinh hoạt đời sống hàng ngày [9].
Theo tác giả người Nga Ubanxkaia với tác phẩm “Giáo viên và công tác với gia đình” đề cập đến công tác Hiệu trưởng với công tác phụ huynh như: công tác quản lý hoạt động phối hợp với gia đình, công tác tư vấn, giao tiếp trực tiếp với phụ huynh và bồi dưỡng đội ngũ giáo viên trong công tác phối hợp với phụ huynh để GD học sinh tới các kĩ năng cần thiết như kĩ năng ứng xử, làm chủ cảm xúc, phòng tránh các sự cố nguy hiểm có thể xảy ra trong cuộc sống hàng ngày. Tác phẩm này đề cập đến phương pháp, tổ chức giáo dục cho HS từ các GV và các bậc phụ huynh trên cơ sở xây dựng kế hoạch và tổ chức triển khai GDKNST cho HS phù hợp với điều kiện nhà trường và kinh phí đóng góp của gia đình HS [13]. Quản lý GD cho HS nói chung và GDKNST cho HS dưới sự phối hợp của nhà trường và gia đình là vấn đề từ lâu đã được xã hội và các nhà giáo dục rất coi trọng. Trong nền giáo dục cận đại, J.Komenxki (1592-1670) là người đầu tiên nêu ra một hệ thống lý luận chặt chẽ về tầm quan trọng của mối quan hệ thống nhất giữa gia đình và nhà trường đối với kết quả giáo dục KNST cho trẻ.
Việc GDKNST cho trẻ cần được xây tổ chức dưới các hình thức chọn lọc phù hợp với điều kiện nhà trường và địa phương. Trong đó cần có các kế hoạch và giám sát kiểm tra đôn đốc của nhà trường kết hợp với sự quan tâm từ phía gia đình tạo điều kiện cho HS có đủ cơ sở vật chất cũng như các nguồn lực để học tập một cách hiệu quả nhất [13]. 10 Trong tác phẩm “Nền giáo dục cho thế kỉ 21” tác giả Raja Roy Singh đã nói: “Giáo dục KNST cho HS cần được bắt đầu từ gia đình và được hình thành theo những giá trị của cha mẹ. Trách nhiệm của nhà trường là kết hợp với gia đình nhưng dần dần cùng với sự phát triển của HS.
Quản lý GDKNST bắt nguồn từ khâu lên kế hoạch và công tác quản lý chỉ đạo của CBQL nhà trường kết hợp với chi hội phụ huynh để tổ chức chỉ đạo công tác GDKNST cho HS đa dạng các hình thức. Trên cơ sở kiểm tra đánh giá tính phù hợp của khâu tổ chức về chương trình và nội dung phương pháp, CBQL nhà trường sẽ điều chỉnh về công tác GDKNST cho HS trong thời gian tiếp theo. Vì vậy, sự phối hợp và quản lý sự phối hợp giáo dục học sinh giữa nhà trường và gia đình vô cùng quan trọng. Sự phối hợp nhịp nhàng, ăn ý giữa nhà trường và gia đình sẽ góp phần giúp đứa trẻ phát triển toàn diện cả về năng lực và phẩm chất.
Nghiên cứu trong nước Tác giả Đặng Xuân Hải, Nguyễn Sỹ Thư đã tổng hợp một số quan điểm lý luận và thực tiễn về việc hợp tác giáo dục gia đình, nhà trường và xã hội; với tác phẩm “Quản lý giáo dục, quản lý nhà trường trong bối cảnh thay đổi” đề cập đến vai trò và trách nhiệm của gia đình và nhà trường trong việc quản lý giáo dục cho HS.