Chương I CƠ SỞ LY LUẬN VE QUAN LÝ SỰ PHÓI HOP GIỮA NHÀ TRƯỜNG VÀ GIA ĐÌNH TRONG HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC HỌC TẬP CHO HỌC SINH LỚP 10 Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHÓ THÔNG 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Nghiên cứu ở nước ngoài + Nghiên cứu về mỗi quan hệ phối hợp giữa nhà trường - gia đình trong GD HS Những nội dung nghiên cứu về sự phối hợp giữa nhà trường - gia đình được phân theo các mục in nghiêng dưới day: - Khái niệm và đặc điểm của méi quan hệ phổi hợp giữa nhà trường - gia đình Quan hệ phối hợp giữa nhà trường - gia đình là mối quan hệ và hoạt động hợp tác liên quan đến nhân viên nhà trường, phụ huynh và các thành viên khác trong gia đình của người học tại một trường học. Quan hệ phối hợp hiệu quả được dựa trên sự tin tưởng, tôn trọng lẫn nhau và chia sẻ trách nhiệm trong việc GD HS giữa nhà trường và gia đình.
Điều quan trọng không chỉ là sự gắn bó chặt chẽ giữa nhà trường và gia đình mà còn là sự phối hợp đó diễn ra như thế nào. Tập sách “Các nguyên tắc phối hợp với gia đình học sinh” cho rằng quan hệ đối tác tốt phải dựa trên phương pháp tiếp cận "có nguyên tắc” công nhận và xây dựng dựa trên kiến thức chuyên môn của phụ huynh, nơi các chuyên gia và phụ huynh thực sự lắng nghe và học hỏi lẫn nhau theo những cách được chính phụ huynh coi trọng và đánh giá cao. Trong việc khám phá và thể hiện các nguyên tắc chung mà sự tham gia trở thành hiện thực trong công việc tô chức của họ, các thành viên của nhóm tương tác với phụ huynh về học tap sớm (ELPPEG) đã có những đóng góp có giá trị cho cuộc tranh luận về sự cần thiết phải có phân định rõ ràng trách nhiệm và quyền hạn giữa nhà trường và gia đình trong GD cho HS. quy định cụ thê những nội dung mà gia đình tham gia trong quá trình GD.
Van đề được chứng minh ở đây là tam quan trọng của các quá trình gắn 13 kết và tam quan trọng của việc làm rõ rang những niềm tin và giá trị được nắm giữ bởi những người làm việc dé gắn kết với các gia đình HS. (Dwynwen Stepien, et al. 2) Nhu vậy, quan hệ phối hợp giữa nhà trường - gia đình cân tích cực mới có thé mời gọi CMHS tham gia vào sự phối hợp với nhà trường. - Các loại quan hệ phối hợp giữa nhà trường - gia đình Nghiên cứu trong những năm qua đo Epstein chỉ ra cho thấy sự phối hợp giữa nhả trường và gia đình có sảu loại tiêu biêu sau: Loại 1: Trợ giúp phụ huynh - giúp tất cả các gia đình thiết lập môi trường gia đình đề hỗ trợ HS là người học.
Loại 2: Giao tiếp - Hãy linh hoạt trong lịch trình của các cuộc họp và có phiên dich sẵn néu cần thiết, Loại 3: Tình nguyện - Tuyền dụng và tô chức giúp đỡ và hỗ trợ phụ huynh. Loại 4: Học tại nhà - Cung cấp thông tin và ý tưởng cho các gia đình về làm thé nào dé giúp con em lam bai tập ở nha và các hoạt động khác liên quan đến chương trình giảng dạy, quyết định và lập kế hoạch. Loại 5: Đưa ra quyết định - Bao gồm cha mẹ trong các quyết định của trường, phát trién các nhà lãnh đạo phụ huynh và đại diện. Loại 6: Phối hợp với cộng đồng.
Xác định và tích hợp các nguồn lực và dịch vụ từ cộng đồng dé tăng cường các chương trình trường học. thực hanh trong gia đình và học tập và phát triển của HS. Epstein đã giải thích ở từng loại phối hợp. vai trò tham gia của nhả trường có ý nghĩa đối với thực tiễn quan hệ phối hợp như thế nào và làm rõ cách mỗi loại trong thực tiễn có thé đóng vai trò như một chất xúc tác cho việc phát triển một chương trình hợp tác toản diện mà cuối cùng sẽ có lợi cho HS, cha mẹ/người chăm sóc và toàn bộ cộng dong nhà trường.
Dưới mỗi loại tham gia được liệt kê là một ví dụ vẻ vai trỏ của nha trường có thé đóng góp được mô tả. Các loại phối hợp giữa nhà trường và gia đình được đánh giá thông qua mức độ tham gia của CMHS ở từng giai đoạn của sự phối hợp. (Hamilton, Anna Rawlings, 2010, tr. 14 - Ảnh hưởng của sự phối hợp giữa nhà trường - gia đình đến kết quả học tập của HS Về tâm quan trọng của quan hệ đối tác nhà trường - gia đình, các nghiên cứu chứng minh rằng trường học hiệu quả luôn là trường thu hút được CMHS và cộng đồng tham gia vào hoạt động của nhà trường ở mức cao.
Sự tham gia này liên quan chặt chẽ đến việc cải thiện thành tích học tập, tính chuyên cần và hành vi của HS. Sự tham gia của gia đình có tác động chính đến việc học tập của HS, không kể nên tảng xã hội, văn hoá của gia đình. Vi vay, sự tham gia của gia đình HS vao hoạt động ở các trường học là trọng tam cho GD chất lượng cao vả là một trong những công việc cốt lõi của nhà trường. HS sẽ đạt được kinh nghiệm tốt nhất khi nhà trường va gia đình các em có mỗi quan hệ phối hợp chặt chẽ và thường xuyên.
Ba thập kỷ nghiên cứu cia Drake đã chứng minh rằng khi phụ huynh và gia đình tham gia vào hoạt động của trường thì họ sẽ góp phần đáng kẻ, bằng nhiều cách khác nhau, đối với kết quả học tập của HS và sự thanh công của trường học. Những phát hiện này vẫn còn khá phù hợp mặc dù thực tế rằng các gia đình đã trải qua những thay đôi đáng kẻ theo thời gian và trường học hiện nay cũng "hoạt động” rất khác so với trường học cách đây một hoặc hai thập kỷ". Một trong tám mục tiêu trong năm 1994, bao gồm mục tiêu pháp luật năm 2000 được dành riêng cho lĩnh vực quan trọng này: "Mỗi trường thúc day quan hệ phối hợp sẽ tăng cường được sự tham gia của CMHS trong việc thúc đây sự phát triển xã hội, tình cảm và học tập của HS" (Bộ Giáo dục Hoa Ky, 1994), Tâm quan trọng của sự tham gia của phụ huynh và gia đình được tái khăng định trong năm 1997, khi PTA tái khang định tam quan trọng, sự cần thiết của sự hợp tác giữa các nhà GD, các chuyên gia và CMHS bang cách ban hanh sáu tiêu chuan quốc gia cho các chương trình phối hợp giữa gia đình và nhà trường. (Susane Carter, 2002, tr.
Kathleen Cotton and Karen Reed Wikelund đồng tác giả của tập sách “sự tham gia của cha mẹ vào giáo dục - khung quan hệ phối hợp giữa nhà trường và gia đình " cho rằng: dé giúp học viên và các nhà GD biết được phương pháp xây 15 dựng các kết nói tích cực với các kiêu gia đình HS, giúp nâng cao thành tích học tập của HS từ mẫu giáo đến lớp 12, ngoài việc đơn giản đưa phụ huynh tham gia vào việc học ở trường, cuốn sách còn mô tả quá trình ma các chuyên gia và các bậc cha mẹ có thể làm việc cùng nhau, cộng tác để xã hội hóa và hỗ trợ HS như những người học. Căn cứ vào lý thuyết và nghiên cứu, cuốn sách có nêu những ví dụ trường hop, bai tập tự phản hồi và câu hỏi tháo luận trong mỗi chương. Những chiến lược và các công cụ được cung cấp - bao gồm cả bảng tự ghi dấu, tự đánh giá hữu ích - dé giúp các chuyên gia đánh giá các kết nối cả nha trường - gia đình hiện nay đang ở vị trí nào, trên cơ sở đó, họ sẽ phát triển, thực hành hiệu quả mới hơn. (Kathleen Cotton and Karen Reed Wikelund, 1989, tr.
Không có gì ngạc nhiên khi phụ huynh tham gia với các trường học đã trở thành một van đẻ chính của GD trong những năm 1980. Day là một kỷ nguyên của môi quan tâm ngày cảng tăng về chất lượng GD ở đất nước này. Các tiêu bang dang tham gia một vai trò lớn hơn trong việc theo đối và duy trì các tiêu chuẩn học thuật, Cộng đồng chưa bao giờ xem xét thận trọng hơn về các chi phí của GD công lập. Trường học địa phương có liên quan đến việc tiếp tục để cung cấp chất lượng giảng dạy cao và các dịch vụ khác với các nguồn tài nguyên cạn kiệt và CMHS muốn đảm bảo rằng con cái của họ sẽ nhận được sự chuẩn bị đầy đủ dé song một cuộc song xứng đáng dành cho người lớn.
Công trình khoa học của tác gia Mircea Agabrian đăng trên tạp chi Qualitative Social Research năm 2007 có tựa dé: “Relationships between family and school: The Adolescents perspective” Mircea Agabrian. Relationships between family and school: The Adolescents perspective. Qualitative Social Research. Công trình đã nghiên cứu mỗi quan hệ phối hợp giữa nha trường, gia đình thông qua khảo sát nhu cầu của HS đối với sự tham gia của gia đình vào quá trình học tập của các em tại hạt Alba, Romania (Rumani).
Tác giả nghiên cứu moi quan hệ phối hợp nhà trường, gia đình trong GD cho HS trên quan điểm, cách nhìn nhận của người học, không phải trên quan điểm của nhà QL. Điều này mang tính thực tiễn cao bởi lẽ các quy trình trong GD, QLGD déu nhằm đích đến là nâng cao chất 16 lượng hoạt động hoc tập của HS. Kết qua học tap, nang luc, phâm chất đạo đức của HS.là kết quả xác thực nhất dé đánh giá sự hiệu quả của một phương pháp GD hay một phương thức QLGD. Trong nghiên cứu của mình, tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu thực tiến, cụ thé là phương pháp phỏng van sâu.
Việc chọn mẫu được xác định trên các tiêu chí: giới tính, độ tuổi HS, khu vực địa lý trong hạt Alba, hoàn cánh gia đình. Do đặc thù nghiên cứu tập trung vào đối tượng HS nên các phiếu điều tra, khảo sát được sử dụng cho HS. Nghiên cứu của tác giả chỉ tiết và cụ thé, lam sáng rõ quan điểm của HS đổi với mối quan hệ nhà trường với gia đình trong GD hay cụ thê hơn là sự tham gia của gia đình trong hoạt động học tập của các em. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, trong hơn 2.000 HS tại các trường trung học được khảo sát tại hat Alba, 54 % số HS không đánh giá cao mối quan hệ phối hợp giữa nhà trường với gia đình.
HS cho rằng vai trò của gia đình trong hoạt động GD rất mờ nhạt, không cần thiết. Qua tìm hiểu, tác giả đã tìm ra nguyên nhân của thực trạng trên.