Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động chủ nhiệm lớp tại trường Tiểu học theo hướng phối hợp giữa nhà trường và gia đình Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động chủ nhiệm lớp tại các trường Tiểu học huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội theo hướng phối hợp giữa nhà trường và gia đình Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động chủ nhiệm lớp tại các trường Tiểu học huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội theo hướng phối hợp giữa nhà trường và gia đình. 4 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG CHỦ NHIỆM LỚP TẠI TRƢỜNG TIỂU HỌC THEO HƢỚNG PHỐI HỢP GIỮA NHÀ TRƢỜNG VÀ GIA ĐÌNH 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề Đất nước ta đang trong thời kì phát triển và hội nhập quốc tế, đặc biệt là trong thời đại công nghệ thông tin như hiện nay. Chính vì vậy công tác Giáo dục và đào tạo chiếm một vị trí rất quan trọng nhằm đáp ứng các nguồn nhân lực cho sự phát triển trong cuộc cách mạng công nghiệp 4.
Để đạt được mục tiêu của ngành Giáo dục mỗi nhà trường đều phải nâng cao chất lượng dạy và học cũng như đổi mới công tác quản lý của CBQL nhằm phù hợp với từng đối tượng, từng cấp học cũng như từng lớp học. Mô hình lớp học được duy trì và phát triển không chỉ ở Việt Nam mà còn ở khắp các nước trên thế giới. Để tổ chức cũng như quản lý lớp học được tốt bao giờ cũng cần ít nhất một người quản lý, đó chính là GVCN. GVCN chiếm một vị trí vô cùng quan trọng bởi vì họ là những người quyết định mọi sự phát triển, tiến bộ cũng như mọi hoạt động của học sinh.
GVCN trước hết phải là nhà GD, phải là người tổ chức hoạt động giáo dục, là người luôn quan tâm, chăm lo tới việc rèn luyện hành vi đạo đức của HS. Đồng thời, họ còn là tấm gương tác động tích cực đến việc hình thành các phẩm chất đạo đức cũng như nhân cách của HS. Không những vậy, GVCN còn là lực lượng hỗ trợ chủ chốt cho BGH. Mặt khác, GVCN còn là cầu nối giữa tập thể HS với các tổ chức xã hội trong và ngoài nhà trường, cũng như giữa HS với CMHS.
Người GVCN lớp còn là người đại diện cho quyền lợi chính đáng của HS, bảo vệ học sinh về mọi mặt, phản ánh trung thực về nhu cầu, tâm tư, nguyện vọng của học sinh với BGH nhà trường, với các GV bộ môn, với gia đình và với các đoàn thể xã hội khác. Bước đầu hình thành và phát triển nhân cách, được trang bị những hiểu biết ban đầu về tự nhiên, xã hội, được trang bị những kiến thức cơ bản đó chính là GD tiểu học. Đây là những hành trang đầu để HS bước vào cuộc sống trong tương lai. Chính vì vậy người GVCN cần tổ chức các hoạt động khác nhau để HS tham gia 5 nhằm hoàn thiện nhân cách.
Nhấn mạnh vai trò của đội ngũ GVCN trong quản lý, GD toàn diện cho HS, Tác giả Hà Thế Ngữ đã khẳng định: “ Người đứng ra đảm đương vai trò chủ đạo chính trong công tác giáo dục học sinh của từng lớp, trên cơ sở phối hợp các lực lượng giáo dục cũng chính là GVCN” [24]. Như chúng ta biết, HS mỗi lớp đồng thời học nhiều GS khác nhau, cũng như một giáo viên chuyên có thể đảm nhận việc giảng dạy ở nhiều lớp khác nhau. Từ đó vấn đề được đặt ra là: Ai sẽ là người đứng ra phối hợp toàn bộ các hoạt động của các GV chuyên dạy trong cùng một lớp nhằm bảo đảm sự giáo dục tới các HS. Vấn đề được nêu ra là: ai sẽ là người đứng ra phối hợp hoạt động của tất cả các giáo viên bao gồm GVCN và giáo viên chuyên dạy trong cùng một lớp nhằm đảm bảo sự tác động giáo dục thống nhất? Người đó không ai khác là giáo viên chủ nhiệm.
Nhận thức được vai trò của giáo viên chủ nhiệm trong công tác QL, GDHS bản thân tôi đã đưa ra các nội dung phương pháp công tác của GVCN với tập thể HS, với các GV khác cũng như với CMHS; Nghiên cứu về biện pháp quản lý hoạt động chủ nhiệm lớp có một số đề tài tiêu biểu như: Luận văn Thạc sĩ của tác giả Nguyễn Duy Bảo: “Biện pháp quản lý công tác chủ nhiệm lớp trong trường phổ thông”; Các đề tài nghiên cứu trên đi sâu vào việc xác định các nội dung, nhiệm vụ của hoạt động GVCN lớp; khẳng định vai trò và vị trí của quản lý GVCN lớp trong GD phát triển toàn diện nhân cách học sinh; một số công trình đã đánh giá được thực trạng và tìm ra giải pháp cho công tác giáo viên chủ nhiệm ở các vùng, địa phương khác nhau với các đối tượng HS khác nhau, đây chính là các căn cứ khoa học cho Tác giả xây dựng hệ thống cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài nghiên cứu. Mặc dù vậy vẫn chưa có đề tài nào tập trung đi sâu nghiên cứu hoạt động chủ nhiệm lớp các trường tiểu học huyện Hoài Đức vì vậy vẫn chưa có đề tài tập trung đi sâu nghiên cứu QL hoạt động chủ nhiệm lớp các trường Tiểu học huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội. Tác giả Hà Nhật Thăng trong “Công tác giáo viên chủ nhiệm lớp ở trường phổ thông” đã chỉ ra các nhiệm vụ, hoạt động của GD mà GVCN phải thực hiện đó là: GVCN là người thay thế hiệu trưởng quản lý toàn diện tập thể học sinh một lớp 6 học; GVCN là cố vấn tổ chức hoạt động tự quản của HS; GVCN phối hợp với các lực lượng xã hội nhằm thực hiện mục tiêu GD của lớp chủ nhiệm. Tác giả đã đưa ra một số phương pháp cụ thể cho GVCN trong QL và GD lớp học như: Phương pháp GD cá biệt; phương pháp GD song song.
Trên cơ sở của sự nhận thức tầm quan trọng của công tác chủ nhiệm lớp, tác giả đã đưa ra các yêu cầu cao về phẩm chất và năng lực của người GVCN lớp, tác giả đã đưa ra các yêu cầu cao về phẩm chất và năng lực của người GVCN lớp, đảm bảo cho học thực sự là những tấm gương sáng, trực tiếp và hiệu quả trong QL và GD HS trong lớp. Tác giả Phạm Viết Vượng đã đưa ra yêu cầu cao đối với GVCN lớp: “ GVCN phải là người có năng lực chuyên môn tốt, có kinh nghiệm làm công tác GD, QLHS, có tinh thần trách nhiệm, nhiệt tình công tác và có uy tín với tập thể HS và tập thể sư phạm. GVCN lớp bằng tổ chức các hoạt động đa dạng để GDHS trở thành con ngoan, trò giỏi, người công dân tốt, những người sống có ích cho Tổ quốc, gia đình và bản thân”. Chính vì vậy, khi nghiên cứu vấn đề này, Tác giả Trần Thị Tuyết Oanh đã đề cập hoạt động chủ nhiệm lớp gắn liền với việc xây dựng và phát triển tập thể HS, GVCN lớp là người đóng vai trò quyết định trong hình thành và phát triển nhân cách cho HS trong lớp học.
Tác giả cho rằng: “Công tác QL và GD toàn diện HS chỉ thực sự có kết quả khi họ xây dựng lớp học trở thành tập thể đoàn kết thân ái, có tổ chức và có kỷ luật tự giác, biết giúp đỡ và tạo điều kiện cho mỗi thành viên trong tập thể phấn đấu vươn lên” (26, tr 178). Từ đó, tác giả đã nêu ra phương pháp và nội dung xây dựng một tập thể học sinh của GVCN; các giai đoạn phát triển của tập thể và sử dụng tập thể như một công cụ hữu ích cho việc giáo dục học sinh chậm tiến về mặt đạo đức. Nghiên cứu về quản lý hoạt động chủ nhiệm lớp đã có một số đề tài tiêu biểu như: Luận văn Thạc sĩ của tác giả Nguyễn Duy Bảo “Biện pháp quản lý công tác chủ nhiệm lớp trong trường phổ thông”. Ở Việt Nam việc nghiên cứu về hoạt động chủ nhiệm lớp được tác giả Nguyễn Thanh Bình quan tâm sâu sắc với các công trình: “Công tác chủ nhiệm lớp ở trường phổ thông”, để tài mã số SPHN-09-465NCSP, 2010; cũng như cuốn: “Một 7 số vấn đề trong công tác chủ nhiệm lớp ở trường phổ thông hiện nay” (NXB Đại học Sư phạm, 2011); Các tác giả đề cập đến những vấn đề cơ bản của công tác chủ nhiệm lớp, các nội dung trong công tác chủ nhiệm lớp ở trường Tiểu học hiện nay từ góc nhìn của chuẩn nghề nghiệp GV tiểu học và các kỹ năng nghề nghiệp mà GVCN cần có.
Ngoài những tác giả trên còn có rất nhiều nhà khoa học cũng quan tâm đến công tác chủ nhiệm lớp với các công trình của: Nguyễn Dục Quang, Lê Thanh Sử, nguyễn Thị Kỳ, “Những tình huống GD HS của người GVCN, NXB ĐHQG Hà Nội, 2000; Hà Nhật Thăng (chủ biên). Còn một số không ít các tác giả đi sâu vào nghiên cứu những khía cạnh khác có liên quan đến công tác chủ nhiệm như: Nguyễn Thanh Bình với “Giáo dục kỹ năng sống” (NXB ĐH Sư phạm, HN 2007); Bùi Ngọc Diệp- Lê Minh Châu- Trần Thị Tố Oanh- Phạm Thị Thu Phương- Nguyễn Dục Quang- Lê Thanh Sử- Lưu Thu Thủy- Đào Vân Vi với “Giáo dục kỹ năng sống trong hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở trường Tiểu học”, NXBGD, 2010; Các đề tài nghiên cứu trên đi sâu vào việc xác định các nội dung, nhiệm cụ của hoạt động GVCN lớp; khẳng định vai trò và vị trí của quản lý hoạt động chủ nhiệm lớp trong GD phát triển toàn diện nhân cách cho HS; một số công trình đã đánh giá được thực trạng và tìm các giải pháp cho hoạt động chủ nhiệm lớp ở các vùng, địa phương khác nhau với các đối tượng HS khác nhau, đây chính là các căn cứ khoa học cho tác giả xây dựng hệ thống cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài nghiên cứu. Tuy nhiên vẫn chưa có đề tài nào tập trung đi sâu nghiên cứu một cách cụ thể về quản lý hoạt động chủ nhiệm lớp tại các trường Tiểu học huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội theo hướng phối hợp giữa nhà trường và gia đình. Do yêu cầu thực tế của công tác quản lý GD, tác giả nhận thấy cần nghiên cứu thực trạng quản lý hoạt động chủ nhiệm lớp tại các trường Tiểu học huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội theo hướng phối hợp giữa nhà trường và gia đình để đề ra những biện pháp quản lý hiệu quả hoạt động chủ nhiệm lớp phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của một huyện ngoại thành Hà Nội.
Các khái niệm cơ bản 1.