Chương 1. Một số vấn đề chung về quản lý dịch vụ thẻ của ngân hàng thương mại Chương 2. Phương pháp nghiên cứu Chương 3. Thực trạng quản lý dịch vụ thẻ tại ngân hàng TMCPĐầu tư và Phát triển Việt Nam - chi nhánh Nghệ An giai đoạn 2011-2015 Chương 4.
Giải pháp tăng cường quản lý dịch vụ thẻ tại ngân hàng TMCPĐầu tư và Phát triển việt nam- chi nhánh Nghệ An. TỔNG QUẢN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ NHỮNG LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN LÝ DỊCH VỤ THẺ CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.Tổng quan các công trình nghiên cứu Hiện nay, để thực hiện mục tiêu thanh toán không dùng tiền mặt mà NHNN Việt Nam đã đặt ra, đòi hỏi chúng ta phải phát triển đƣợc dịch vụ thẻ. Tại Việt Nam, thẻ ghi nợ đang chiếm phần lớn thị phần thị trƣờng thẻ thanh toán, trong khi đó thẻ tín dụng lại là loại thẻ tƣơng đối mới mẻ. Đã có một số đề tài khoa học cũng nhƣ các bài viết đề cập đến thành tựu đạt đƣợc, tồn tại và các giải pháp nhằm thúc đẩy sự phát triển của dịch vụ thẻ thanh toán nói chung và thẻ tín dụng nói riêng tại các Ngân hàng Thƣơng mại ở Việt Nam.
Có thể kể đến nhƣ: Bài viết “Phát triển thanh toán không dùng tiền mặt tại Việt Nam – Nhìn từ cơ sở thực tiễn” của Đặng Công Hoàn đăng trên Tạp chí ngân hàng, số 17, trang 26 – 33 năm 2011 [3]. Bài viết đã nêu rõ thực trạng phát triển thẻ thanh toán tại Việt Nam từ năm 2007. Tác giả cũng nhận diện các yếu tố chƣa bền vững nhƣ: phát triển thẻ thanh toán chủ yếu thiên về số lƣợng chƣa đi kèm với sự thay đổi căn bản về chất lƣợng; doanh số dùng thẻ để rút tiền mặt qua ATM chiếm tỷ trọng quá cao; tính liên kết giữa đơn vị bán hàng và đơn vị cung cấp dịch vụ thanh toán không cao và kém bền vững; các chính sách hỗ trợ phát triển thanh toán không dùng tiền mặt tuy đã có khá nhiều nhƣng chƣa có chính sách mang tính đột phá để tạo một lực bẩy cho công cụ thanh toán thẻ và thanh toán điện tử phát triển mạnh mẽ hơn. Qua đó, bài viết có đƣa ra một số giải pháp đối với Chính phủ, Ngân hàng Nhà nƣớc, ngân hàng thƣơng mại và các tổ chức phát hành thẻ.
“Chính sách của nhà nƣớc trong phát triển thanh toán không dùng tiền mặt – Kinh nghiệm phát triển thẻ thanh toán ở Hàn Quốc và một số hàm ý cho Việt Nam”, của Đặng Công Hoàn đăng trên Tạp chí ngân hàng, số 24, trang 9 4 – 15, năm 2011 [4]. Thẻ tín dụng là phƣơng tiện thanh toán đƣợc sử dụng phổ biến nhất tại Hàn Quốc hiện nay. Số lƣợng thẻ tín dụng tại Hàn Quốc tăng mạnh từ 106.989 nghìn thẻ lên 116.231 nghìn thẻ giai đoạn 2009 – 2012. Hạ tầng phục vụ cho việc thanh toán thẻ tại Hàn Quốc đƣợc xây dựng hoàn thiện bao gồm hệ thống rộng khắp các máy ATM, POS và mạng lƣới đơn vị chấp nhận thẻ.
Mạng lƣới các đại lý chấp nhận thẻ tăng mạnh từ 14. Ngoài ra, số lƣợng máy cà thẻ cũng tăng đáng kể từ 121. Để có thể đạt đƣợc sự phát triển ấn tƣợng của thị trƣờng thẻ tín dụng thì Chính phủ Hàn Quốc đã cho ban hành những chính sách khá tập trung, đồng bộ hỗ trợ cho hoạt động thanh toán thẻ tín dụng nói riêng và thanh toán không dùng tiền mặt trong cả nƣớc nhƣ: - Ban hành Luật kinh doanh thẻ tín dụng khá sớm (1987). - Đƣa ra quy định về việc xử lý giao dịch thẻ tín dụng quốc tế khi thanh toán tại thị trƣờng nội địa đều do hệ thống nội địa xử lý.
- Xây dựng hệ thống quản lý thông tin cá nhân, thông tin khách hàng rất minh bạch; thành lập Trung tâm thông tin tín dụng vào năm 2002. - Thực hiện mở cửa và tự do hoá lĩnh vực du lịch vào từ năm. Tuy nhiên, đến năm 2003, sự tăng trƣởng quá nóng của thị trƣờng thẻ tín dụng tại Hàn Quốc đã gây ra những hậu quả khá nghiêm trọng. Dƣ nợ thẻ tín dụng tăng quá nhanh, tỷ lệ thanh toán không đúng hạn gia tăng, nợ xấu thẻ tín dụng tăng chóng mặt, hàng loạt tổ chức phát hành thẻ tín dụng đứng trƣớc nguy cơ phá sản.
Trƣớc thực trạng đáng báo động của thị trƣờng thẻ, Chính phủ đã kịp thời ban hành các chính sách tái cơ cấu nhằm khắc phục khủng hoảng tín dụng tiêu dùng năm 2003: - Cấm hoạt động mời chào phát hành thẻ trên đƣờng phố, cấm các hình thức tặng quà, khuyến mãi để thu hút khách hàng sử dụng thẻ; - Quy định hạn mức rút tiền mặt là 50% thay vì 100% nhƣ giai đoạn trƣớc; - Yêu cầu các công ty thẻ, ngân hàng phải áp dụng tiêu chuẩn cao hơn trong việc cấp tín dụng thẻ và xử lý nợ xấu bằng cách đặt ra tiêu chuẩn phân loại, trích lập dƣ nợ thẻ tín dụng. 5 Nhờ việc áp dụng đồng bộ các chính sách, tỷ lệ nợ quá hạn của Hàn Quốc đã giảm nhanh chóng từ 14,06% năm 2002 xuống còn 5,89% năm 2005. Từ năm 2006, thị trƣờng thẻ Hàn Quốc bƣớc vào giai đoạn bão hoà. Các tổ chức thẻ thay đổi mô hình hoạt động, tăng cƣờng các dịch vụ chứ không chỉ tập trung vào gia tăng số lƣợng thẻ phát hành.
Thị trƣờng thẻ ghi nhận sự phát triển ổn định và đóng góp ngày một đáng kể vào lợi nhuận của các ngân hàng cũng nhƣ chiếm tỷ trọng ngày một cao trong tổng chi tiêu của ngƣời dân. Trên cơ sở bài học kinh nghiệm của các nƣớc đi trƣớc, có thể đƣa ra một số bài học mà Việt Nam có thể học hỏi: Thứ nhất, ban hành Luật thẻ tín dụng, cho phép khấu trừ thuế thu nhập cũng nhƣ thuế kinh doanh cho chủ thẻ và các đơn vị chấp nhận thẻ, đẩy mạnh mở của kinh tế, mở cửa lĩnh vực du lịch nhằm tăng nhu cầu tiêu dùng… Thứ hai, hoàn thiện hệ thống xếp hạn tín dụng, hệ thống quản lý thông tin khách hàng nhằm tạo cơ sở đánh giá khách hàng chính xác hơn. Thứ ba, cần có chiến lƣợc phát triển thị trƣờng thẻ tín dụng một cách bền vững, không nên chỉ vì sự phát triển ngắn hạn mà gây ra những hệ luỵ đáng tiếc. Thứ tƣ, các ngân hàng thƣơng mại có thể nghiên cứu, triển khai dòng thẻ tín dụng cho doanh nghiệp; phát triển dịch vụ trả góp qua thẻ tín dụng.
“Giải pháp phát triển thị trƣờng thẻ Việt Nam” của Bùi Quang Tiên đăng trên tạp chí tài chính ngày 20-5-2013 [14]. Tác giả đã nêu một số kết quả đạt đƣợc trong quá trình phát triển thẻ tại Việt Nam về phát hành thẻ mới và nâng cao chất lƣợng thẻ cũng nhƣ dịch vụ tới khách hàng; cơ sở hạ tầng phục vụ cho thanh toán thẻ tiếp tục đƣợc đầu tƣ và cải thiện; hành lang pháp lý cho hoạt động thẻ tiếp tục đƣợc hoàn thiện; tăng cƣờng sự phối hợp giữa các Bộ, ngành, đơn vị liên quan. Bài viết cũng đƣa ra mục tiêu phát triển thanh toán không dùng tiền mặt đã đƣợc xác định tại Quyết định 2453 là: Đa dạng hóa dịch vụ thanh toán, phát triển cơ sở hạ tầng thanh toán, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thanh toán điện tử, chú trọng phát triển thanh toán không dùng tiền mặt trong khu vực nông thôn để đáp ứng tốt hơn nhu cầu thanh toán 6 của nền kinh tế, giảm chi phí xã hội liên quan đến tiền mặt, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ, rõ rệt về tập quán thanh toán trong xã hội, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống ngân hàng và hiệu quả quản lý nhà nƣớc. “Thẻ tín dụng – phƣơng tiện giao dịch nhiều tiện ích” của Phƣơng Linh đăng trên trang của Ngân hàng Nhà nƣớc Việt Nam ngày 18/6/2014 [15].
Bài viết đã nêu lên một số lợi ích của thẻ tín dụng nhƣ: là hình thức tín dụng tiêu dùng đƣợc đơn giản hóa tối đa về thủ tục; ngân hàng phát hành thẻ thƣờng có điều khoản miễn lãi cho chủ thẻ tối đa đến 45 ngày kể từ ngày phát sinh giao dịch mua hàng hóa, dịch vụ; thẻ tín dụng là hình thức cấp tín dụng tín chấp, ngân hàng căn cứ vào mức độ tín nhiệm, điều kiện thu nhập của khách hàng mà quy định hạn mức tín dụng phù hợp đối với chủ thẻ và chủ thẻ không phải thế chấp hay cầm cố tài sản cho ngân hàng. Tuy nhiên, bài viết cũng đề cập đến vấn đề lãi suất thẻ tín dụng cao hơn nhiều so với lãi suất cho vay thông thƣờng. Ví dụ, mức lãi suất thẻ tín dụng mà các ngân hàng tại Việt Nam hiện áp dụng từ khoảng 15%/năm đến 30%/năm tùy theo từng ngân hàng, trong khi lãi suất cho vay cá nhân có tài sản thế chấp chỉ ở mức 12%/năm. Tác giả có đƣa ra một số nguyên nhân dẫn đến lãi suất thẻ tín dụng cao đồng thời đƣa ra khuyến cáo cho chủ thẻ cần tìm hi ểu kỹ các quy định của ngân hàng phát hành thẻ, đặc biệt là nắm vƣ̃ng cách tinh́« laĩ suất của ngân hàng phát hành thẻ.
Bài viết “Thanh toán thẻ vƣớng ở dịch vụ công” của Phạm Hà Nguyên đăng trên Thời báo ngân hàng ngày 04/6/2014 [16]. Bài viết đề cập đến việc phí thanh toán qua POS không đƣợc hạch toán vào chi phí tính thuế ở khu vực công nhƣ bệnh viện hay trƣờng học. Nếu “đẩy” khoản phí quẹt thẻ vào tay bệnh nhân, bệnh viện sẽ bị phản ứng do mức thu phí cao hơn quy định chung nên họ thƣờng yêu cầu thanh toán bằng tiền mặt để giảm bớt thiệt hại. Hiện nay, mới có khoảng 1% trong tổng giao dịch thanh toán khám chữa bệnh qua thẻ ngân hàng, trong khi khối lƣợng giao dịch ngày một lớn.
Việc hỗ trợ phí quẹt thẻ thanh toán qua POS sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh cho các đơn vị 7 cung ứng dịch vụ công là quyết định cần thiết của Bộ Tài chính nhằm góp phần thực hiện chủ trƣơng chung của Chính phủ hạn chế sử dụng tiền mặt trong giao dịch xã hội. Theo các chuyên gia thanh toán, có thể đề xuất các tổ chức thẻ Visa, Master điều chỉnh mức phí chiết khấu thanh toán thẻ đối với nhóm khách hàng tiềm năng nhƣ bệnh viện, trƣờng học. Bài viết “Thẻ tín dụng đi vào nhu cầu thực” của Đức Nghiêm đăng trên trang của Ngân hàng Nhà nƣớc Việt Nam ngày 12/8/2014 [17]. Bài viết nhận định sự bão hòa của thẻ ghi nợ trên thị trƣờng thẻ thanh toán Việt Nam và hiện nay các NHTM đang chuyển hƣớng sang phát triển thẻ tín dụng.