Chương I CƠ SỞ LÝ LUAN VE QUAN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC THEO HƯỚNG PHAT TRIEN PHAM CHAT, NANG LUC HOC SINH TẠI TRƯỜNG TIỂU HỌC 1. Tông quan nghiên cứu vấn dé 1. Các công trình nghiên cứu khoa học trên thế giới Trong cuốn sách “Phát huy tích cực cúa HS như thể nào”, [27, tr45] L.Kharlamop đã khẳng định vai trò to lớn cúa tính tích cực, chủ động trong việc tiếp thu trí thức mới. Ông cho rằng “Quá trình nắm kiến thức mới không thê hình thành bằng cách học bình thưởng các quy tắc, các kết luận khái quát hóa mà nó phải được xây dựng trên cơ sở của việc cải tiến công tác tự lập của HS, của việc phân tích logic sâu sắc tài liệu, sự kiện làm nền tảng cho việc hành thành các khái niệm khoa học”.
vận đông không ngừng của đời sống xã hội tất yêu dẫn đến sự đôi mới trong mục tiêu, nội dung và phương pháp giáo dục. HS là mục đích tôn tại của hoạt động giáo dục, HS phải liên tục được khuyến khích tham gia vào các hoạt động giáo dục của nhà trường, GV không phải là người “ban phat” kiến thức, không phải là một vị quan tòa mà là một thành viên trong cộng đồng lớp học, có nhiệm vụ là một tác nhân kích thích bằng việc cung cấp vật liệu, đầu mỗi, thông tin, gợi ý, tô chức, hướng dẫn. để kích thích tư duy của người học, tức là GV có thể tạo một môi trường khuyến khích sự học. nghiên cứu, Muốn vậy, GV phải là một chuyên gia được đảo tạo tốt, một người hiểu biết giáo dục toàn diện.
Nội dung giáo dục phải phản ánh sự phát triển theo sự phát triển của nhân loại, phải mang tính tăng tiễn. Chương trình giáo dục phải phù hợp, hiện đại theo sự phát triển chung của loài người. Phương pháp dạy học cũng phải gắn chặt với đối tượng và nội dung, phương pháp là phương pháp của năng lực và hứng thú của trẻ em, cúa cá nhân đang trưởng thành, chứ không phải là phương pháp của người lớn (những người đã trưởng thành), bởi vậy không thẻ tách rời phương pháp ra khỏi nội dung, mục tiêu, chươngtrình giáo dục. Platon (427- 347 trước công nguyên) đã khẳng định được vai trò tất yêu của giáo dục trong xã hội, tính quyết định của chỉnh trị đối với giáo dục, phản nảo nói lên tằm quan trong của thể chế xã hội đối với giáo dục nói chung và hoạt động dạy học nói riêng, tuy rằng các quan điểm này của ông cỏn hạn chế về mặt bình đẳng trong giáo dục.
Không Tử (S51 - 479 trước công nguyên) với quan điểm hoạt động DH là: “dùng cách gợi mỡ, đi từ gần tới xa, từ đơn giản đến phức tạp, nhưng vẫn đôi hỏi người học phái tích cực suy nghĩ. đòi hỏi học trò phải tập luyện, phái hình thành nẻ nếp, thói quen học tập” và “học không biết chán, dạy không biết mỏi”. Quan điểm của ông muốn mang lại hiệu quả hoạt động DH phải để cao đến các quy định về nề nếp hoạt đông DH. nâng cao trình đô của người dạy để lưa chọn được những PPDH theo hướng để cao năng lực tự học, phát huy tỉnh thần độc lập suy nghĩ và sáng tạo của người học [43] Từ cuối thế ky XIV, vấn đề hoạt động day hoc được nhiều nhà giáo dục quan tâm, nỗi bật nhất trong thời kỳ đó là J.Cômenxki (1592-1670) đã đưa ra những quan điểm về HĐDH mà chúng ta có thể vận dụng trong HĐDH 2 buổi/ ngày.
Theo ông quá trình dạy học đề truyền thụ và tiếp nhận tri thức là phải dựa vào sự vật hiện tượng do HS tự quan sát, tự suy nghĩ mà hiểu biết, không nên áp đặt, gò ép người ta chấp nhận bất kỳ một điều gì và ông đã nêu ra một số nguyên tắc dạy học có giá trị rất lớn: nguyên tắc trực quan; nguyên tắc phát huy tính tự giác tích cực của HS; nguyên tắc hệ thống và liên tục; nguyên tắc củng cô kiến thức; nguyên tắc dạy học theo khả năng tiếp thu của HS (vừa sức); dạy học phải thiết thực và dạy học theo nguyên tắc cá biệt [40]. Quan điểm giáo dục của nhà giáo dục kiệt xuất Comenxki đã đưa ra quan điểm dạy học đân chủ, tích cực, kỷ luật trong môi trường dạy học tiểu học: “Đền thể kỷ XVII, nhà GD vĩ đại J.A Comenxki (1592 - 1670) và những người kế tục ông đã đưa ra những yêu cầu cải tổ GD theo hướng phát huy tính tích cực, độc lập, sáng tạo của người học. Chính từ những quan niệm tiên tiến nảy, ngày nay, lý luận dạy học đã phát triển, hoàn thiện thành những những nguyên tắc dạy học tích cực. Người GV muốn thực hiện những nguyên tắc đó thì nhất thiết phải được bổi dưỡng và tự bồi dưỡng thường xuyên về chuyên môn, nghiệp vụ thì mới đáp ứng được nhu câu của người học.
Ông đã phân tích các hiện tượng trong tự nhiên và hiện thực dé đưa ra các biện pháp dạy học buộc học sinh phải tìm tôi, suy nghĩ để nắm được bản chất của sự vật hiện tượng” [40, tr.S0] Nhà giáo dục John.Dewey đã đẻ xuất thành lập nhà trường tích cực hướng vảo người học, lấy quá trình học tập của người học làm trung tâm đặc biệt là lứa tuổi tiểu học (Learner centred); thực chất nhằm khuyến khích tính học tập, tự chú, tự chịu trách nhiệm của người học. Bởi hoạt động học là của cá nhân người học, trên cơ sở vận dụng kiến thức, phân tích kinh nghiệm để đáp ứng những yêu cầu của nhiệm vụ học tập chứ không thê thụ động chờ đợi sự truyền đạt của người dạy. Hoạt đông DH lẫy người học làm trung tâm dựa trên hai nguyên tắc căn bản: đảm báo tính liên tục của kiến thức. và sự tác động qua lại cúa các thành viên.
Hai nguyên tắc này liên hệ chặt chẽ với nhau, tính liên tục bao hảm các mối liên hệ của kiến thức; sự tác động qua lại giữa các thành viên tạo nên kết quả tông hợp của người học với sự giúp đỡ của thay va ban, thống nhất giữa nhu cầu nhận thức, ý chỉ cá nhân với tác động của môi trường, như hành vi của bạn bè, nghệ thuật giảng đạy của người dạy và những điều kiện học tập khác. Ông kêu gọi: “Nhà trường phái được tô chức đưới hình thức một cộng đồng mang tỉnh chất hợp tác để ở đó, nhiệt tình giao tiếp và tính cách dân chủ cho trẻ được bồi dưỡng và phát huy” [40]. Đây là tư tưởng cấp tiền, thẻ hiện rõ tính dân chủ, mang tỉnh cách mạng trong GD, hoạt dong DH hướng vào người học; phát huy vai trỏ tích cực học tập giữa các cá nhân với công đồng khi thực hiện quá trinh DH lúc bấy giở. Các công trình nghiên cứu khoa học trong nước Theo Đỗ Ngọc Đạt đã đưa ra: “Chương trình GDPT chú trọng đến thiết kế chương trình dạy học theo định hướng phát triển phẩm chất, năng lực học sinh.
Đây là phương diện thu hút được sự quan tâm của nhiễu nhà nghiên cứu, nhí là từ sau khi có Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8 BCH Trung ương khỏa XI về đổi mới căn bản, toàn diện GD&ĐT. Còn chương trình dạy học định hưởng NL là chương trình định hướng kết quả đầu ra, nhằm mục tiêu phát triển NL người học. ra, có thể coi là *sản phẩm cuối củng” của quả trình dạy học. Việc quán lý chất lượng dạy học.
chuyển từ việc điều khiến “đầu vào” sang điều khiên “đầu ra”, tức là kết quả học tập của HS, Chương trình dạy học định hướng phát triển NL không quy định những nội dung dạy học chỉ tiết mà quy định những kết quả đầu ra mong muốn của quá trình giáo dục, trên cơ sở đó đưa ra những hưởng dẫn chung về việc lựa chọn nội dung, phương pháp, tô chức và đãnh giá kết quả dạy học nhằm đảm bảo thực hiện được mục tiêu đạy học tức là đạt được kết quả đầu ra mong muốn. Trong chương trình định hướng phát triển NL, mục tiêu học tập, tức là kết quả hoc tập mong muôn thường được mô tả thông qua hê thống các NL. Kết quả học tập mong muốn được mô tả chỉ tiết và có thể quan sát, đánh giá được. HS cân đạt được những kết quả, yêu cầu đã quy định trong chương trình.
Việc đưa ra các chuẩn dạy học cũng nhằm đảm bảo quản lý chất lượng dạy học theo định hướng kết quả đầu ra. Ưu điểm của chương trình dạy học định hướng phát triên NL là tạo điều kiện quán lý chất lượng theo kết quả đâu ra đã quy định, nhân mạnh NL vận dụng của HS” [23, tr. Tác giả Lê Hoàng Hà (2012) có nghiên cửu luận án tiễn sĩ chuyên ngành giáo dục học tại Học viện quan lý giáo đục với tên dé tai “Quản lý dạy học theo quan điểm dạy học phân hoá ở trường Tiêu học Việt Nam hiện nay” [20] Cùng thời điểm năm 2012, tác giả Phạm Quốc Khánh đã thực hiện dé tai “Quan li hoạt hoạt động dạy học theo hướng phân hóa ở Trường Tiểu học Chu Văn An. thành phổ Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên”.
Từ nghiên cứu cơ sở lÿ luận vả hạn chế thực trạng, tác giả đã đề ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản li hoạt hoạt động dạy học theo hướng phân hóa ở Trường Tiểu học Chu Văn An, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên [28] Trong cuốn “Ziếp cận hiện đại trong day hoc” cha tác giả Đỗ Ngọc Đạt đã đưa ra: “Dạy học không phải là chất đẩy và một cải thùng rồng mà là làm bừng sắng lên những ngọn lứa" [I9tr.56] Trong cuốn “Những bài giảng về quản lý trưởng học” của Hà Sỹ Hồ đã đưa ra quan điêm của Socrates (469 - 399 TCN) đã đề xuất thực hiện phương pháp đảm thoại trong dạy học và được sử dụng cho đến ngày nay [24, tr.56] Tác giả Phan Trọng Ngọ trong cuốn “Dạy học và phương pháp dạy học trong nhà trưởng" đã trích lời của tác giả Claparet E: *Khơi dậy một nhu cầu học tập của HS; Khoi day phan ứng thích hợp của HS; Tiếp nhận những hiểu biết phủ hợp để kiểm tra phán ứng ấy, điều khiển và hướng chúng đến mục đích đề ra” [41, tr46]. Tác giả còn nhắn mạnh đến nhu cầu và sở trường học tập của mỗi cá nhân HS. Theo đó, GV phải tạo cơ hội để HS phát huy được tính tích cực và tự lực của cá nhân. Trong dạy học theo hưởng tích cực, phương pháp và kĩ thuật dạy học là một trong những nội dung được các nhà nghiên cứu trên thể giới quan tâm.
Tác giả Nguyễn Hữu Châu cho thấy hệ thông cấu trúc cúa quá trình DH bao gồm.