Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ chuyên ngành Quản lý giáo dục (mã số: 9 14 01 14) với đề tài "Quản lý hoạt động dạy học phân hóa môn Ngữ văn ở trường trung học phổ thông thành phố Hà Nội theo chương trình giáo dục phổ thông 2018" do nghiên cứu sinh Hồ Thu Quyên thực hiện tại Trường Đại học Giáo dục – Đại học Quốc gia Hà Nội, dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. Nguyễn Thị Mỹ Lộc và TS. Nguyễn Phương Huyền, bảo vệ năm 2023.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 của Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đã xác định mục tiêu chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học. Chương trình Giáo dục phổ thông (GDPT) 2018 cụ thể hóa định hướng này theo nguyên lý tăng cường tích hợp ở cấp tiểu học và phân hóa sâu ở cấp trung học phổ thông (THPT).

Môn Ngữ văn trong Chương trình GDPT 2018 được xây dựng theo hướng mở, lấy việc hình thành và phát triển năng lực giao tiếp (thông qua các kỹ năng đọc, viết, nói và nghe) làm trục chính xuyên suốt, đồng thời thực hiện chủ trương một chương trình nhiều bộ sách giáo khoa (SGK). Tuy nhiên, thực tiễn dạy học môn Ngữ văn tại các trường THPT vẫn bộc lộ hạn chế: việc tổ chức dạy học còn mang tính cào bằng, áp dụng chung một cách thức cho số đông, chú trọng giảng văn hơn học ngữ, dẫn đến tình trạng một bộ phận học sinh tốt nghiệp THPT chưa thành thạo kỹ năng tạo lập văn bản hoàn chỉnh.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án xác định là: Mặc dù dạy học phân hóa (DHPH) và quản lý dạy học đã được nghiên cứu ở nhiều góc độ, nhưng việc quản lý hoạt động dạy học phân hóa môn Ngữ văn ở trường THPT theo yêu cầu của Chương trình GDPT 2018 chưa được nghiên cứu một cách hệ thống, đồng bộ ở cấp độ nhà trường. Năng lực tổ chức DHPH của giáo viên và năng lực quản lý hoạt động này của cán bộ quản lý (CBQL) tại các trường THPT còn nhiều lúng túng, bất cập.

Mục tiêu nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn về quản lý hoạt động dạy học phân hóa môn Ngữ văn ở trường THPT, luận án đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động dạy học phân hóa môn Ngữ văn theo Chương trình GDPT 2018 tại thành phố Hà Nội nhằm phát triển năng lực người học, nâng cao chất lượng dạy học môn học và đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục.

Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết khoa học

  • Câu hỏi nghiên cứu: Dạy học phân hóa là con đường để phát triển năng lực cho người học. Từ góc độ quản lý, làm thế nào để thực hiện thành công dạy học phân hóa môn Ngữ văn ở trường trung học phổ thông tại thành phố Hà Nội theo chương trình giáo dục phổ thông 2018, đáp ứng mục tiêu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục?
  • Giả thuyết khoa học: Sự khác nhau về sở thích, nguyện vọng, năng lực học tập môn Ngữ văn của học sinh là tất yếu khách quan. Dạy học phân hóa môn Ngữ văn theo Chương trình GDPT 2018 chỉ có thể thành công khi có sự lãnh đạo và áp dụng hệ thống các biện pháp quản lý bao quát: từ nâng cao nhận thức về giá trị của DHPH cho CBQL, giáo viên và học sinh; tổ chức bồi dưỡng năng lực DHPH cho giáo viên; đến quản lý tốt môi trường dạy học phân hóa, tạo động lực cho giáo viên chủ động, sáng tạo.

Nhiệm vụ nghiên cứu

  1. Xác định cơ sở lý luận về quản lý hoạt động dạy học phân hóa môn Ngữ văn ở trường THPT theo Chương trình GDPT 2018.
  2. Khảo sát và đánh giá thực trạng quản lý hoạt động dạy học phân hóa môn Ngữ văn ở trường THPT công lập trên địa bàn thành phố Hà Nội và xác định nguyên nhân của thực trạng.
  3. Đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động dạy học phân hóa môn Ngữ văn ở trường THPT tại thành phố Hà Nội theo Chương trình GDPT 2018.
  4. Khảo nghiệm và thử nghiệm một số biện pháp quản lý đã đề xuất nhằm đánh giá tính cấp thiết, tính khả thi và hiệu quả thực tế.

Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu

  • Khách thể nghiên cứu: Hoạt động dạy học phân hóa môn Ngữ văn ở trường trung học phổ thông.
  • Đối tượng nghiên cứu: Quản lý hoạt động dạy học phân hóa môn Ngữ văn ở trường trung học phổ thông tại thành phố Hà Nội theo Chương trình GDPT 2018.
  • Phạm vi địa bàn: 30 trường THPT công lập thuộc 22 quận, huyện trên địa bàn thành phố Hà Nội (gồm 15 trường thuộc 11 quận nội thành và 15 trường thuộc 11 huyện ngoại thành).
  • Phạm vi thời gian: Các năm học từ 2018 – 2019 đến 2022 – 2023.
  • Khách thể khảo sát: Tổng số 2.029 người, bao gồm:
    • Chuyên gia, CBQL tại Sở GD&ĐT Hà Nội, Phòng Giáo dục THPT, Phòng Quản lý thi và Kiểm định chất lượng, cùng giảng viên các trường đại học: 48 người.
    • Cán bộ quản lý trường THPT (Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng): 75 người.
    • Tổ trưởng, tổ phó tổ chuyên môn Ngữ văn tại các trường THPT: 56 người.
    • Giáo viên dạy môn Ngữ văn tại trường THPT: 370 người.
    • Học sinh các trường THPT trên địa bàn khảo sát: 1.480 người.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu về dạy học phân hóa

Tư tưởng về dạy học phân hóa có lịch sử lâu đời:

  • Khổng Tử (551 – 479 TCN) đã thực hiện phân chia nội dung dạy học thành phần công truyền và tâm truyền cho từng đối tượng.
  • J. Komensky (1592 – 1670) trong tác phẩm Thiên đường của trái tim (1663) xác lập nguyên tắc không gò ép học sinh vào những đòi hỏi vượt quá khả năng.
  • J. Rutxô (1712 – 1778), A. Ditecvec (1790 – 1866), Petxtalôđi (1746 – 1827) và K. Usinxki (1824 – 1870) nhấn mạnh việc dạy học phải dựa trên đặc điểm phát triển tâm – sinh lý cá nhân.
  • John Dewey (1859 – 1952) khẳng định mục tiêu giáo dục phải căn cứ vào tiềm năng, nhu cầu, hứng thú và kinh nghiệm của cá nhân học sinh.
  • Kenneth Dunn và cộng sự (1978, Đại học St. John, New York) công bố công trình Dạy sinh viên thông qua phong cách học tập cá nhân họ, thiết lập bộ công cụ đánh giá người học.
  • Carol Ann Tomlinson (Đại học Virginia) qua nhiều công trình (1994, 2001, 2010, 2014, 2017) đã phát triển lý thuyết "Lớp học phân hóa" (The differentiated classroom), xác định 6 thành phần của DHPH: phân hóa từ hứng thú, phân hóa trong kiểm tra – đánh giá, phân hóa kế hoạch bài học, phân hóa nội dung, phân hóa quy trình và phân hóa sản phẩm học tập.
  • Thomas Armstrong dựa trên lý thuyết đa trí tuệ của Howard Gardner công bố công trình Đa trí tuệ trong lớp học (1994), hướng dẫn thiết kế chương trình và đánh giá phân hóa.
  • Pearl Subban (2006), Holli M. Levy (2008), Kay Brimijoin, Ede Marquissee (2012) phân tích các kỹ thuật phân nhóm, tiêu chí phân hóa theo trình độ, phong cách học tập và bối cảnh xã hội.
  • L.X. Vygotsky (1896 – 1934) với lý thuyết "Vùng phát triển gần nhất" (ZPD) cung cấp nền tảng tâm lý học xác định khoảng cách giữa trình độ phát triển hiện tại và trình độ người học có thể đạt được dưới sự hướng dẫn của giáo viên; lý thuyết này được Roiha, Csikszentmihalyi (1990) và Diane Heacox (2012) kế thừa và ứng dụng.
  • Tại Việt Nam: Nguyễn Thanh Hoàn (2007) đề xuất quy trình 4 bước kế hoạch hóa DHPH; Đặng Thành Hưng (2007, 2008) phân tích cơ sở sư phạm của DHPH vi mô trong lớp học; Đoàn Duy Hinh và cộng sự (2008) tổng kết mô hình DHPH tại 20 quốc gia; Đinh Quang Báo (2016) nghiên cứu đào tạo giáo viên đáp ứng đổi mới giáo dục; Nguyễn Thị Hằng Nga và Trần Thị Thanh Huyền (2020), Phạm Thị Lan Phương và cộng sự (2014) khảo sát mức độ sẵn sàng của giáo viên đối với DHPH.

Các hướng nghiên cứu về quản lý dạy học và quản lý dạy học phân hóa

  • A. Popov (1956) công bố cuốn sách Quản lý trường học (Skolovedenie); M.I. Kondakov nghiên cứu lý luận quản lý trường học tại Liên Xô.
  • Robert J. Pollock (2010) xác định 3 nhiệm vụ quản lý của giáo viên trong lớp học phân hóa: lựa chọn phương pháp, thiết kế chương trình tạo thuận lợi cho việc học và áp dụng biện pháp quản lý lớp học.
  • Myrna Loy Patton Corley (2017) phân tích vai trò của hiệu trưởng trong việc hỗ trợ và chỉ đạo giáo viên thực hiện chiến lược DHPH.
  • David Jener Martin và Kimberly S. Loomis (2014), Blackburn (2016), Gurley và cộng sự (2015), Salo và cộng sự (2015) nghiên cứu các kỹ năng quản lý thời gian, cân bằng tiêu chuẩn và phân loại bài tập trong lớp học phân hóa.
  • Tại Việt Nam: Nguyễn Thị Mỹ Lộc (2015) nghiên cứu về quản lý dạy học định hướng phát triển năng lực; Nguyễn Bá Kim (1992) xem xét DHPH từ mối quan hệ biện chứng giữa giáo dục diện "đại trà" và "mũi nhọn"; Tôn Thân (2006) phân tích cơ chế phân hóa nội tại (vi mô) và phân hóa vĩ mô; Nguyễn Hữu Châu (2005), Lê Thị Thu Hương nghiên cứu quản lý hoạt động dạy học theo hướng cá thể hóa.

Khoảng trống luận án giải quyết

Các công trình trước đây chủ yếu tập trung vào lý luận chung về DHPH, dạy học phân hóa ở bậc đại học hoặc trong các môn khoa học tự nhiên, hoặc nghiên cứu DHPH môn Ngữ văn theo chương trình 2006. Chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện về quản lý hoạt động dạy học phân hóa môn Ngữ văn ở trường THPT theo Chương trình GDPT 2018 gắn với bối cảnh thực tiễn của các trường THPT công lập tại thành phố Hà Nội.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và khái niệm công cụ

  1. Dạy học: Là quá trình tương tác biện chứng giữa hoạt động dạy của giáo viên (truyền đạt, điều khiển) và hoạt động học của học sinh (lĩnh hội, tự điều khiển) nhằm giúp học sinh phát triển phẩm chất và năng lực.
  2. Dạy học phân hóa: Hệ thống hành động tương tác giữa dạy và học dưới tác động của môi trường, đảm bảo lập kế hoạch và tổ chức dạy học dựa trên sự khác biệt của học sinh về năng lực nhận thức, phong cách học tập, đặc điểm trí tuệ, tâm – sinh lý, hứng thú và hoàn cảnh, nhằm mang lại hiệu quả phát triển tối ưu cho từng cá nhân.
  3. Quản lý hoạt động dạy học phân hóa môn Ngữ văn: Sự tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý (Sở GD&ĐT, Hiệu trưởng, Tổ chuyên môn) đến các thành tố của quá trình dạy học môn Ngữ văn (mục tiêu, nội dung, phương pháp, phương tiện, môi trường dạy học, kiểm tra – đánh giá) nhằm thực hiện mục tiêu phát triển năng lực ngôn ngữ và văn học theo Chương trình GDPT 2018.

9 cách tiếp cận nghiên cứu

Luận án vận dụng 9 cách tiếp cận khoa học:

  • Tiếp cận duy vật lịch sử: Xem xét thực trạng DHPH gắn với điều kiện lịch sử cụ thể của từng nhà trường.
  • Tiếp cận văn hóa tổ chức: Đánh giá văn hóa nhà trường như điều kiện nền tảng cho việc đổi mới phương pháp dạy học.
  • Tiếp cận hệ thống: Đặt quản lý DHPH trong chỉnh thể đổi mới Chương trình GDPT 2018 và mối liên hệ giữa các thành tố dạy học.
  • Tiếp cận cá thể hóa: Tôn trọng sự khác biệt về tâm – sinh lý, năng lực nhận thức của học sinh và phong cách giảng dạy của giáo viên.
  • Tiếp cận năng lực: Tập trung vào phát triển chuẩn đầu ra về phẩm chất, năng lực của học sinh và chuẩn nghề nghiệp của cán bộ quản lý, giáo viên.
  • Tiếp cận chức năng: Nghiên cứu chức năng của từng chủ thể quản lý và chủ thể dạy học.
  • Tiếp cận hoạt động: Vận dụng lý thuyết hoạt động tâm lý học để phân tích các hành vi dạy và học.
  • Tiếp cận quá trình: Xem xét tiến trình dạy học và quản lý dạy học qua các giai đoạn nối tiếp (chuẩn bị, triển khai, đánh giá, cải tiến).
  • Tiếp cận sư phạm tương tác: Phân tích mối quan hệ tương tác ba chiều giữa người dạy, người học và môi trường giáo dục.

Phương pháp nghiên cứu

  • Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận: Thu thập, phân tích, tổng hợp và hệ thống hóa các văn bản quy phạm pháp luật, chương trình giáo dục, tài liệu khoa học trong và ngoài nước.
  • Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
    • Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Thiết kế phiếu khảo sát định lượng gửi đến 48 chuyên gia/CBQL cấp Sở/giảng viên, 75 CBQL trường THPT, 56 tổ trưởng/tổ phó chuyên môn, 370 giáo viên Ngữ văn và 1.480 học sinh.
    • Phương pháp phỏng vấn sâu: Phỏng vấn định tính CBQL, tổ trưởng chuyên môn, giáo viên và học sinh để làm rõ nguyên nhân thực trạng.
    • Phương pháp quan sát sư phạm: Dự giờ, quan sát tiết dạy Ngữ văn và hoạt động quản lý chuyên môn tại các trường THPT.
  • Nhóm phương pháp bổ trợ:
    • Phương pháp chuyên gia: Tham vấn ý kiến các nhà khoa học giáo dục, chuyên gia quản lý về hệ thống tiêu chí và biện pháp đề xuất.
    • Phương pháp khảo nghiệm: Khảo sát đánh giá mức độ cấp thiết và tính khả thi của 5 biện pháp quản lý.
    • Phương pháp thử nghiệm sư phạm: Tổ chức thử nghiệm tác động trên nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng để đo lường sự chuyển biến về năng lực dạy học phân hóa của giáo viên.
    • Phương pháp xử lý số liệu: Sử dụng phần mềm Microsoft Excel và SPSS để xử lý thống kê mô tả, tính điểm trung bình (Mean), độ lệch chuẩn (SD) và kiểm định tương quan.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động dạy học phân hóa môn Ngữ văn ở trường THPT theo chương trình giáo dục phổ thông 2018

  • Tổng hợp các cơ sở lý luận về dạy học phân hóa, quản lý dạy học và quản lý DHPH môn Ngữ văn.
  • Xác định vị trí, thời lượng môn Ngữ văn trong Chương trình GDPT 2018: Môn học bắt buộc từ lớp 1 đến lớp 12; ở cấp THPT, thời lượng là 105 tiết/năm học (35 tuần), kèm theo 35 tiết chuyên đề học tập tự chọn mỗi năm học dành cho học sinh có định hướng khoa học xã hội và nhân văn.
  • Phân tích các điểm mới của môn Ngữ văn 2018:
    • Chuyển từ trục lịch sử văn học sang trục phát triển năng lực giao tiếp (đọc, viết, nói và nghe).
    • Thực hiện chương trình mở: quy định chuẩn đầu ra và một số tác phẩm bắt buộc/bắt buộc lựa chọn, không quy định cứng nhắc toàn bộ ngữ liệu chi tiết.
    • Sách giáo khoa đóng vai trò là học liệu, không phải là nguồn kiến thức duy nhất; kiểm tra – đánh giá sử dụng ngữ liệu mới ngoài SGK để đánh giá năng lực thực chất của học sinh.
  • Hệ thống hóa các năng lực hình thành qua môn Ngữ văn: 3 năng lực chung (tự chủ và tự học, giao tiếp và hợp tác, giải quyết vấn đề và sáng tạo) và các năng lực đặc thù (năng lực ngôn ngữ, năng lực văn học, năng lực tiếp nhận văn bản, năng lực tạo lập văn bản, năng lực thẩm mỹ, năng lực tư duy).
  • Xác lập quy trình quản lý hoạt động DHPH môn Ngữ văn theo 4 giai đoạn:
    1. Quản lý chuẩn bị (xây dựng kế hoạch dạy học, chuẩn bị học liệu, phân loại đối tượng học sinh).
    2. Quản lý triển khai (tổ chức dạy học phân hóa trên lớp, quản lý hoạt động học tập của học sinh, quản lý môi trường dạy học).
    3. Quản lý kiểm tra, đánh giá (đánh giá thường xuyên, đánh giá định kỳ theo chuẩn năng lực).
    4. Quản lý cải tiến (đánh giá hiệu quả, điều chỉnh kế hoạch và phương pháp).
  • Phân tích 8 nhóm yếu tố tác động đến quản lý hoạt động DHPH môn Ngữ văn: Điều kiện cơ sở vật chất, thiết bị và tài chính; chủ trương, chính sách; môi trường xã hội và sự phối hợp nhà trường – gia đình; xu thế đổi mới giáo dục; điều kiện kinh tế – xã hội; nhận thức và năng lực của CBQL; nhận thức và năng lực của giáo viên; nhận thức, năng lực và nhu cầu của học sinh THPT.

Chương 2: Cơ sở thực tiễn về quản lý hoạt động dạy học phân hóa môn Ngữ văn ở trường trung học phổ thông theo chương trình giáo dục phổ thông 2018 tại thành phố Hà Nội hiện nay

  • Tổng kết kinh nghiệm quốc tế về DHPH và quản lý DHPH tại Phần Lan, Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc; rút ra bài học cho Việt Nam về trao quyền tự chủ chuyên môn cho giáo viên, đa dạng hóa tài liệu học tập và tăng cường bồi dưỡng kỹ năng sư phạm phân hóa.
  • Khái quát quy mô giáo dục THPT thành phố Hà Nội: Địa bàn rộng, số lượng trường lớp và học sinh lớn, tồn tại sự chênh lệch về điều kiện kinh tế – xã hội và cơ sở vật chất giữa các quận nội thành và các huyện ngoại thành.
  • Tổng hợp cơ cấu mẫu khảo sát thực trạng:
Nhóm khách thể Số lượng (người) Tỷ lệ (%)
Chuyên gia, CBQL Sở GD&ĐT Hà Nội, giảng viên đại học 48 2,37
Cán bộ quản lý trường THPT (Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng) 75 3,70
Tổ trưởng, Tổ phó chuyên môn Ngữ văn 56 2,76
Giáo viên dạy môn Ngữ văn THPT 370 18,23
Học sinh THPT (lớp 10, 11, 12) 1.480 72,94
Tổng cộng 2.029 100,00
  • Kết quả khảo sát thực trạng hoạt động dạy học phân hóa môn Ngữ văn:
    • Về nhận thức: Đa số CBQL và giáo viên hiểu được tầm quan trọng của DHPH nhưng mức độ hiểu sâu về các kỹ thuật phân hóa nội dung, tiến trình và sản phẩm học tập theo Chương trình GDPT 2018 còn hạn chế.
    • Về hoạt động dạy: Giáo viên đã bắt đầu áp dụng việc phân hóa câu hỏi, bài tập nhưng việc thiết kế kế hoạch bài dạy phân hóa cho từng nhóm đối tượng học sinh chưa đồng bộ; phương pháp dạy học chủ yếu vẫn là thuyết trình kết hợp đàm thoại chung cho cả lớp.
    • Về hoạt động học: Học sinh có nhu cầu phân hóa cao nhưng kỹ năng tự học, tự nghiên cứu chuyên đề và kỹ năng làm việc nhóm theo năng lực còn yếu.
    • Về môi trường dạy học: Cơ sở vật chất, phòng học bộ môn, thiết bị công nghệ thông tin và nguồn ngữ liệu bổ trợ tại nhiều trường (nhất là khu vực ngoại thành) chưa đáp ứng yêu cầu tổ chức lớp học phân hóa linh hoạt.
  • Kết quả khảo sát thực trạng quản lý hoạt động DHPH môn Ngữ văn:
    • Quản lý khâu chuẩn bị: Việc chỉ đạo xây dựng kế hoạch dạy học môn học của tổ chuyên môn được thực hiện nền nếp nhưng tính phân hóa trong kế hoạch chưa rõ nét.
    • Quản lý khâu triển khai: CBQL chủ yếu kiểm tra hồ sơ giáo án, việc dự giờ thăm lớp để tư vấn chuyên môn về kỹ thuật dạy học phân hóa chưa thường xuyên.
    • Quản lý kiểm tra – đánh giá: Bước đầu chỉ đạo đổi mới ma trận, đặc tả đề kiểm tra theo hướng đánh giá năng lực và sử dụng ngữ liệu ngoài SGK, tuy nhiên việc quản lý đánh giá quá trình (đánh giá thường xuyên) theo sự tiến bộ của từng đối tượng học sinh còn nhiều lúng túng.
    • Công tác bồi dưỡng giáo viên: Các đợt tập huấn của Sở GD&ĐT và nhà trường chủ yếu phổ biến đại trà, thiếu các khóa bồi dưỡng chuyên sâu về kỹ năng quản lý và thực hành DHPH môn Ngữ văn.
  • Điểm mạnh: Đội ngũ CBQL và giáo viên Hà Nội có trình độ chuẩn và trên chuẩn cao, tâm huyết; sự quan tâm chỉ đạo của Sở GD&ĐT đối với Chương trình GDPT 2018.
  • Điểm yếu: Nhận thức chưa đồng đều; kỹ năng phân hóa bài dạy của giáo viên chưa thuần thục; công tác quản lý còn nặng về hành chính; thiếu nguồn học liệu phân hóa và cơ chế khuyến khích giáo viên đổi mới.

Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động dạy học phân hóa môn Ngữ văn ở trường trung học phổ thông thành phố Hà Nội theo chương trình giáo dục phổ thông 2018

  • Xác lập 5 nguyên tắc đề xuất biện pháp:
    1. Nguyên tắc bảo đảm tính mục tiêu.
    2. Nguyên tắc bảo đảm tính đồng bộ, khoa học.
    3. Nguyên tắc bảo đảm tính thực tiễn.
    4. Nguyên tắc bảo đảm tính khả thi và hiệu quả.
    5. Nguyên tắc bảo đảm tính hệ thống, kế thừa và phát triển.
  • Hệ thống 5 biện pháp quản lý:
STT Tên biện pháp quản lý Mục tiêu và nội dung cốt lõi
1 Tổ chức bồi dưỡng nâng cao nhận thức cho CBQL các cấp và giáo viên về quản lý hoạt động DHPH môn Ngữ văn theo CT GDPT 2018 Đổi mới tư duy quản lý; tổ chức hội thảo, chuyên đề quán triệt ý nghĩa, mục tiêu và triết lý dạy học phân hóa môn Ngữ văn.
2 Xây dựng kế hoạch hoạt động dạy học phân hóa môn Ngữ văn theo CT GDPT 2018 Chỉ đạo xây dựng kế hoạch giáo dục nhà trường, kế hoạch tổ chuyên môn và kế hoạch bài dạy của giáo viên có tích hợp mục tiêu, nội dung và tiêu chí phân hóa rõ ràng.
3 Tổ chức bồi dưỡng nâng cao năng lực dạy học phân hóa môn Ngữ văn cho giáo viên theo yêu cầu CT GDPT 2018 Bồi dưỡng kỹ năng chẩn đoán người học, kỹ thuật phân hóa bài dạy (nội dung, quy trình, sản phẩm), kỹ năng sử dụng ngữ liệu mở và đổi mới kiểm tra – đánh giá năng lực.
4 Tổ chức giáo dục kỹ năng học tập cho học sinh trong hoạt động dạy học phân hóa môn Ngữ văn theo CT GDPT 2018 Rèn luyện cho học sinh phương pháp tự học, kỹ năng thu thập, xử lý thông tin, kỹ năng làm việc nhóm, tạo lập văn bản và tự đánh giá kết quả học tập.
5 Tăng cường các điều kiện hỗ trợ hoạt động dạy học phân hóa môn Ngữ văn ở trường THPT theo CT GDPT 2018 Hoàn thiện cơ sở vật chất, thư viện, thiết bị dạy học, hệ thống học liệu số; xây dựng môi trường sư phạm tương tác; thiết lập cơ chế thi đua, khen thưởng động viên giáo viên.
  • Khảo nghiệm tính cấp thiết và tính khả thi:
    • Tiến hành khảo nghiệm trên mẫu CBQL và giáo viên. Kết quả thống kê cho thấy cả 5 biện pháp đều được đánh giá ở mức độ "Rất cấp thiết" và "Rất khả thi" (điểm trung bình từ 4,20 đến 4,80 trên thang điểm 5).
    • Hệ số tương quan giữa tính cấp thiết và tính khả thi đạt giá trị dương chặt chẽ, chứng minh tính phù hợp thực tiễn của các biện pháp.
  • Thử nghiệm sư phạm:
    • Nội dung thử nghiệm: Triển khai Biện pháp 3 (Tổ chức bồi dưỡng nâng cao năng lực dạy học phân hóa môn Ngữ văn cho giáo viên) kết hợp áp dụng quy trình quản lý bài dạy phân hóa.
    • Mẫu thử nghiệm: Chia thành nhóm thử nghiệm (TN) và nhóm đối chứng (ĐC) tương đương nhau về trình độ và thâm niên công tác trước thử nghiệm.
    • Kết quả: Sau thử nghiệm, kỹ năng thiết kế bài dạy phân hóa, kỹ năng tổ chức hoạt động học trên lớp và kỹ năng kiểm tra – đánh giá theo hướng phân hóa của giáo viên nhóm TN đạt mức tăng trưởng rõ rệt so với nhóm ĐC, với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  1. Hệ thống hóa và làm sáng tỏ cơ sở lý luận về dạy học phân hóa và quản lý hoạt động dạy học phân hóa môn Ngữ văn ở trường THPT trong bối cảnh triển khai Chương trình GDPT 2018.
  2. Xây dựng quy trình hoạt động dạy học phân hóa môn Ngữ văn và khung quy trình quản lý hoạt động DHPH môn Ngữ văn ở trường THPT theo 4 giai đoạn logic: Chuẩn bị – Triển khai – Đánh giá – Cải tiến.
  3. Xác định và phân loại cụ thể hệ thống các yếu tố khách quan và chủ quan tác động đến hoạt động DHPH và quản lý hoạt động DHPH môn Ngữ văn ở trường THPT.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  1. Cung cấp dữ liệu thực trạng toàn diện, khách quan về hoạt động dạy học và quản lý hoạt động dạy học phân hóa môn Ngữ văn tại 30 trường THPT công lập trên địa bàn thành phố Hà Nội; chỉ rõ những bất cập, hạn chế và nguyên nhân cốt lõi trong giai đoạn đầu thực hiện Chương trình GDPT 2018.
  2. Đề xuất hệ thống 5 biện pháp quản lý hoạt động dạy học phân hóa môn Ngữ văn ở cấp độ trường THPT có tính hệ thống, đồng bộ và phù hợp với thực tiễn giáo dục Thủ đô.
  3. Cung cấp minh chứng thực nghiệm thông qua kết quả khảo nghiệm và thử nghiệm sư phạm, khẳng định các biện pháp đề xuất có khả năng nâng cao năng lực dạy học phân hóa của giáo viên và hiệu quả quản lý của nhà trường.

Khuyến nghị đề xuất

  • Đối với Bộ Giáo dục và Đào tạo: Tiếp tục hoàn thiện văn bản chỉ đạo chuyên môn, ban hành tài liệu hướng dẫn cụ thể về dạy học phân hóa môn Ngữ văn; điều chỉnh cấu trúc đề thi tốt nghiệp THPT theo định hướng đánh giá năng lực với ngữ liệu mở.
  • Đối với Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Nội: Đổi mới nội dung bồi dưỡng giáo viên và CBQL theo hình thức chuyên đề thực hành; tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, thiết bị dạy học và học liệu số cho các trường ngoại thành; tổ chức các diễn đàn chia sẻ kinh nghiệm dạy học phân hóa môn Ngữ văn.
  • Đối với Ban Giám hiệu các trường THPT: Thực hiện phân cấp quản lý chuyên môn, trao quyền tự chủ cho tổ chuyên môn và giáo viên; xây dựng kế hoạch giáo dục nhà trường linh hoạt; tạo môi trường sư phạm thuận lợi và có chính sách động viên giáo viên tích cực đổi mới phương pháp.
  • Đối với Tổ chuyên môn và Giáo viên Ngữ văn: Đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo nghiên cứu bài học; thường xuyên chẩn đoán năng lực, phong cách học tập của học sinh để thiết kế bài dạy phân hóa phù hợp.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của đề tài

  • Khách thể khảo sát thực trạng mới tập trung vào khối các trường THPT công lập trên địa bàn thành phố Hà Nội, chưa khảo sát khối trường THPT tư thục, trường có yếu tố quốc tế hoặc các trung tâm giáo dục nghề nghiệp – giáo dục thường xuyên.
  • Thời điểm thực hiện luận án gắn liền với giai đoạn đầu thực hiện Chương trình GDPT 2018 ở cấp THPT (bắt đầu triển khai từ lớp 10 năm học 2022 – 2023), do đó việc khảo sát và thử nghiệm đối với chương trình lớp 11 và lớp 12 chủ yếu dựa trên các định hướng chương trình và tài liệu ban hành.

Hướng nghiên cứu tiếp theo

  • Mở rộng phạm vi nghiên cứu thực tiễn sang các mô hình trường THPT ngoài công lập và các địa phương khác có điều kiện kinh tế – xã hội đặc thù (vùng miền núi, vùng sâu, vùng xa).
  • Tiếp tục theo dõi, đánh giá tác động của hệ thống biện pháp quản lý khi Chương trình GDPT 2018 được triển khai trọn vẹn ở cả 3 khối lớp (10, 11 và 12) và qua các kỳ thi tốt nghiệp THPT theo chương trình mới.
  • Nghiên cứu chuyển giao và vận dụng khung biện pháp quản lý dạy học phân hóa cho các môn học khác trong Chương trình GDPT 2018.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo hữu ích cho nhiều đối tượng trong lĩnh vực khoa học giáo dục và quản lý giáo dục:

  • Cán bộ quản lý trường THPT (Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng, Tổ trưởng chuyên môn): Tham khảo quy trình quản lý 4 giai đoạn, khung kế hoạch giáo dục nhà trường và các tiêu chí đánh giá giờ dạy phân hóa để áp dụng trong chỉ đạo chuyên môn tại đơn vị.
  • Giáo viên môn Ngữ văn cấp THPT: Vận dụng các kỹ thuật phân hóa mục tiêu, phân hóa câu hỏi, bài tập, thiết kế nhiệm vụ đọc hiểu, viết, nói và nghe phù hợp với từng nhóm đối tượng học sinh theo chuẩn đầu ra của Chương trình GDPT 2018.
  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên ngành Quản lý giáo dục và Sư phạm Ngữ văn: Tham khảo phương pháp luận nghiên cứu kết hợp định tính và định lượng, hệ thống 9 cách tiếp cận, bảng hỏi khảo sát và kỹ thuật xử lý số liệu thực nghiệm.
  • Cơ quan quản lý giáo dục (Sở GD&ĐT, Phòng Giáo dục trung học): Sử dụng các số liệu thực trạng và kiến nghị làm cơ sở thực tiễn để xây dựng kế hoạch tập huấn, bồi dưỡng giáo viên và chỉ đạo thực hiện chương trình giáo dục phổ thông.

Câu hỏi thường gặp

1. Khách thể và địa bàn khảo sát thực trạng của luận án được phân bố như thế nào?

Khảo sát thực trạng được thực hiện tại 30 trường THPT công lập trên địa bàn thành phố Hà Nội, phân bổ đều giữa 15 trường thuộc 11 quận nội thành và 15 trường thuộc 11 huyện ngoại thành. Tổng số khách thể tham gia khảo sát là 2.029 người, gồm 48 chuyên gia/CBQL cấp Sở/giảng viên, 75 cán bộ quản lý trường THPT, 56 tổ trưởng/tổ phó chuyên môn, 370 giáo viên dạy Ngữ văn và 1.480 học sinh THPT.

2. Thời lượng và cấu trúc môn Ngữ văn cấp THPT theo Chương trình GDPT 2018 được quy định ra sao?

Theo Chương trình GDPT 2018, môn Ngữ văn là môn học bắt buộc từ lớp 1 đến lớp 12. Ở cấp THPT, thời lượng môn học là 105 tiết/năm học (tổ chức trong 35 tuần). Bên cạnh đó, chương trình bố trí 35 tiết chuyên đề học tập tự chọn mỗi năm học dành cho học sinh có nguyện vọng và định hướng nghề nghiệp liên quan đến lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn. Cấu trúc nội dung môn học được tổ chức tích hợp trên trục các kỹ năng giao tiếp gồm: đọc, viết, nói và nghe.

3. Luận án đề xuất những biện pháp quản lý cụ thể nào?

Luận án đề xuất hệ thống 5 biện pháp quản lý đồng bộ:

  1. Tổ chức bồi dưỡng nâng cao nhận thức cho CBQL các cấp và giáo viên về quản lý hoạt động DHPH môn Ngữ văn theo Chương trình GDPT 2018.
  2. Xây dựng kế hoạch hoạt động DHPH môn Ngữ văn theo Chương trình GDPT 2018.
  3. Tổ chức bồi dưỡng nâng cao năng lực DHPH môn Ngữ văn cho giáo viên theo yêu cầu của Chương trình GDPT 2018.
  4. Tổ chức giáo dục kỹ năng học tập cho học sinh trong hoạt động DHPH môn Ngữ văn theo Chương trình GDPT 2018.
  5. Tăng cường các điều kiện hỗ trợ hoạt động DHPH môn Ngữ văn ở trường THPT theo Chương trình GDPT 2018.

4. Luận án đã kiểm chứng các biện pháp quản lý bằng những phương pháp nào?

Tác giả đã sử dụng hai phương pháp kiểm chứng khoa học:

  • Phương pháp khảo nghiệm: Khảo sát ý kiến của CBQL và giáo viên về tính cấp thiết và tính khả thi của cả 5 biện pháp trên thang đo 5 mức độ, xử lý tương quan bằng phần mềm SPSS.
  • Phương pháp thử nghiệm sư phạm: Tổ chức thử nghiệm tác động biện pháp bồi dưỡng kỹ năng DHPH cho giáo viên trên mẫu nhóm thử nghiệm và nhóm đối chứng, thực hiện đo lường và so sánh kỹ năng của giáo viên ở hai thời điểm trước và sau thử nghiệm.

5. Điểm đổi mới căn bản trong kiểm tra – đánh giá môn Ngữ văn theo Chương trình GDPT 2018 được luận án nêu là gì?

Điểm đổi mới căn bản là việc kiểm tra – đánh giá kết quả học tập của học sinh không căn cứ vào việc ghi nhớ hay tái hiện các ngữ liệu đã học trong sách giáo khoa, mà lấy yêu cầu cần đạt về các kỹ năng đọc hiểu, viết, nói và nghe nêu trong văn bản chương trình làm chuẩn đánh giá; sử dụng các ngữ liệu mới ngoài SGK nhằm đánh giá chính xác năng lực ngôn ngữ và năng lực văn học thực chất của học sinh.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Hồ Thu Quyên đã giải quyết một cách có hệ thống vấn đề lý luận và thực tiễn về quản lý hoạt động dạy học phân hóa môn Ngữ văn ở trường THPT theo Chương trình GDPT 2018 trên địa bàn thành phố Hà Nội. Dựa trên việc phân tích dữ liệu khảo sát từ 2.029 khách thể tại 30 trường THPT công lập, luận án đã làm rõ thực trạng, chỉ ra các nguyên nhân và đề xuất hệ thống 5 biện pháp quản lý đồng bộ, khả thi. Các kết quả khảo nghiệm và thử nghiệm sư phạm đã khẳng định giá trị ứng dụng của các biện pháp, góp phần cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc nâng cao chất lượng dạy học môn Ngữ văn và hiệu quả quản lý giáo dục phổ thông trong giai đoạn đổi mới hiện nay.