Tổng quan nghiên cứu

Nguồn nhân lực nông nghiệp chất lượng cao giữ vai trò then chốt trong quá trình tái cơ cấu ngành nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới tại Việt Nam. Tuy nhiên, theo số liệu từ Bộ Giáo dục và Đào tạo, mức độ đáp ứng nhân lực trình độ đại học cho lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn sụt giảm đáng kể qua các năm: từ 64,5% năm 2018 xuống còn 56,4% năm 2019 và ước tính chỉ đạt 45,7% vào năm 2020 so với mục tiêu quy hoạch của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Thực tế này phản ánh sự mất cân đối nghiêm trọng giữa năng lực cung ứng đào tạo và nhu cầu sử dụng lao động của xã hội. Vấn đề nghiên cứu trọng tâm đặt ra là làm thế nào để hoàn thiện cơ chế quản lý nhà nước về đào tạo trong bối cảnh cơ sở giáo dục đại học chuyển sang cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm.

Mục tiêu nghiên cứu là đánh giá thực trạng quản lý đào tạo nguồn nhân lực nông nghiệp chất lượng cao tại Học viện Nông nghiệp Việt Nam, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp đổi mới quản lý công của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, đáp ứng yêu cầu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Phạm vi nghiên cứu tập trung tại Học viện Nông nghiệp Việt Nam; phạm vi thời gian từ năm 2014 (thời điểm thành lập Học viện trực thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn theo Quyết định số 441/QĐ-TTg) đến năm 2018, với định hướng dự báo đến năm 2030. Nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học để tái định hình chính sách quản lý nhà nước, hướng tới mục tiêu nâng tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp có việc làm đúng chuyên ngành lên trên 85% và tối ưu hóa hiệu quả phân bổ ngân sách công.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn xây dựng trên nền tảng lý thuyết Quản lý công mới (New Public Management), lý thuyết Vốn con người (Human Capital Theory) và lý thuyết Tự chủ đại học. Lý thuyết Quản lý công mới nhấn mạnh sự chuyển dịch từ mô hình "kiểm soát nhà nước" sang mô hình "giám sát nhà nước", áp dụng các nguyên tắc cận thị trường để nâng cao hiệu quả hoạt động của cơ sở giáo dục công lập. Luận văn vận dụng mô hình 6 thành tố tự chủ đại học của Anderson và Johnson bao gồm: tự chủ nguồn nhân lực, tự chủ tuyển sinh và quản lý người học, tự chủ học thuật và chương trình đào tạo, tự chủ chuẩn mực chất lượng, tự chủ nghiên cứu khoa học và tự chủ tài chính - tài sản.

Khung phân tích của đề tài vận hành dựa trên 5 khái niệm cốt lõi: Quản lý nhà nước về đào tạo, Quản trị đại học, Nguồn nhân lực nông nghiệp chất lượng cao, Quyền tự chủ đại học và Trách nhiệm giải trình xã hội. Trong đó, nguồn nhân lực nông nghiệp chất lượng cao được chuẩn hóa theo phân loại của Tổ chức Lao động Quốc tế ILO ISCO-88 và định hướng Đại hội XI của Đảng, bao gồm 4 nhóm chính: cán bộ lãnh đạo quản lý, chuyên gia quản trị doanh nghiệp nông nghiệp, cán bộ khoa học công nghệ đầu đàn và đội ngũ kỹ sư chuyên môn cao.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp chặt chẽ giữa nguồn dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp. Nguồn dữ liệu thứ cấp được tổng hợp từ các văn bản quy phạm pháp luật như Luật Giáo dục đại học sửa đổi số 34/2018/QH14, Nghị định số 127/2018/NĐ-CP, các báo cáo tổng kết giai đoạn 2014-2018 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cùng dữ liệu thống kê từ Học viện Nông nghiệp Việt Nam.

Đối với dữ liệu sơ cấp, nghiên cứu tiến hành khảo sát thực tiễn với cỡ mẫu gồm 185 đối tượng, bao gồm 35 cán bộ quản lý thuộc Bộ và Học viện, 70 giảng viên chuyên ngành, 50 sinh viên năm cuối và 30 đại diện doanh nghiệp nông nghiệp. Phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên kết hợp chọn mẫu chuyên gia có chủ đích được áp dụng nhằm bảo đảm tính đại diện cho các nhóm chủ thể tham gia chuỗi cung ứng đào tạo. Luận văn sử dụng phương pháp thống kê mô tả, phân tích tổng hợp logic, so sánh đối chiếu và quy nạp. Lý do lựa chọn phương pháp này là nhằm đánh giá khách quan mối quan hệ cung - cầu, đo lường sự biến động quy mô tuyển sinh và xác định nguyên nhân cốt lõi của các điểm nghẽn quản lý trong giai đoạn 2014-2018.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, quy mô tuyển sinh và mức độ đáp ứng nhân lực có xu hướng sụt giảm rõ rệt. Trong giai đoạn 2014-2018, số lượng tuyển sinh các ngành nông nghiệp truyền thống giảm khoảng 15% đến 20%, dẫn đến mức độ đáp ứng nhu cầu nhân lực theo quy hoạch của ngành giảm mạnh từ 64,5% năm 2018 xuống dự kiến chỉ còn 45,7% vào năm 2020.

Thứ hai, cơ cấu đào tạo nguồn nhân lực chưa cân đối và mức độ xã hội hóa còn thấp. Sự mất cân đối thể hiện rõ giữa các ngành kỹ thuật nông nghiệp cốt lõi với các ngành kinh tế, dịch vụ. Do mức học phí ngành nông nghiệp thấp, nguồn thu từ người học chỉ bù đắp được khoảng 40% đến 50% chi phí đào tạo thực tế, gây trở ngại lớn cho việc thực hiện cơ chế tự chủ tài chính theo Quyết định số 873/QĐ-TTg.

Thứ ba, cơ cấu đội ngũ giảng viên chưa đáp ứng đầy đủ tiêu chí của đại học nghiên cứu. Mặc dù tỷ lệ giảng viên có trình độ tiến sĩ đạt khoảng 32%, nhưng thời lượng giảng viên dành cho nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ mới chỉ chiếm dưới 25% tổng quỹ thời gian, thấp hơn nhiều so với tỷ lệ chuẩn 60% tại các trường đại học nghiên cứu quốc tế.

Thứ tư, liên kết đào tạo giữa Học viện và doanh nghiệp còn lỏng lẻo. Trên 70% chương trình thực tập chưa gắn liền với dự án sản xuất thực tế tại các vùng nông nghiệp công nghệ cao, khiến sinh viên sau khi tốt nghiệp còn hạn chế về năng lực thực hành.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân chính của tình trạng trên bắt nguồn từ sự chậm trễ trong chuyển đổi phương thức quản lý nhà nước. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn vẫn còn áp dụng nhiều biện pháp quản lý mang tính hành chính thay vì quản lý theo chất lượng đầu ra. Cơ chế giao quyền tự chủ chưa đi kèm với chính sách phân bổ ngân sách theo kết quả kiểm định chất lượng và mức độ đáp ứng việc làm.

Dữ liệu thực trạng có thể được hệ thống hóa qua biểu đồ cột thể hiện sự sụt giảm nguồn cung nhân lực giai đoạn 2014-2018 và bảng ma trận SWOT đối sánh năng lực đào tạo của Học viện với nhu cầu thực tiễn. Kết quả nghiên cứu hoàn toàn tương đồng với nhận định của Thomas J. Vallely và Ben Wilkinson năm 2008 về sự cần thiết phải cải cách quản lý giáo dục đại học. Đồng thời, nghiên cứu củng cố luận điểm của Đặng Ứng Vận năm 2007 và Bùi Việt Phú năm 2010 về việc xác lập sự hài hòa giữa tự chủ đại học và trách nhiệm giải trình xã hội trong nền kinh tế thị trường.

Đề xuất và khuyến nghị

Một là, hoàn thiện thể chế và đẩy mạnh phân cấp quản lý cho Hội đồng Học viện. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cần chuyển đổi triệt để từ quản lý hành chính sang giám sát vĩ mô thông qua bộ chỉ số hiệu suất; tạo hành lang pháp lý để Học viện nâng tỷ lệ tự chủ tài chính chi thường xuyên lên mức 80% đến 85% trong giai đoạn 2021-2025 (Chủ thể thực hiện: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp với Hội đồng Học viện).

Hai là, triển khai cơ chế đấu thầu, đặt hàng đào tạo sử dụng ngân sách nhà nước. Nhà nước cần xây dựng định mức kinh tế - kỹ thuật chuẩn cho các ngành nông nghiệp trọng điểm như công nghệ sinh học, giống cây trồng, thú y; cam kết bù đắp 100% chi phí chênh lệch đào tạo từ năm 2022 để thu hút người học chất lượng cao (Chủ thể thực hiện: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Tài chính).

Ba là, thiết lập mô hình liên kết đào tạo ba bên giữa Nhà nước, Học viện và Doanh nghiệp. Học viện cần chủ động ký kết hợp tác đào tạo và tuyển dụng với ít nhất 50 doanh nghiệp, tập đoàn nông nghiệp lớn; tích hợp tối thiểu 30% thời lượng thực hành tại doanh nghiệp, hướng tới nâng tỷ lệ sinh viên có việc làm đúng chuyên ngành lên trên 90% sau 6 tháng tốt nghiệp trong lộ trình 2021-2030 (Chủ thể thực hiện: Học viện Nông nghiệp Việt Nam và các Hiệp hội Doanh nghiệp).

Bốn là, nâng cao năng lực đội ngũ giảng viên và hiện đại hóa cơ sở vật chất. Phấn đấu tăng tỷ lệ giảng viên có trình độ tiến sĩ lên 45% đến 50% vào năm 2025; dành tối thiểu 30% kinh phí hoạt động thường xuyên để nâng cấp hệ thống phòng thí nghiệm và trung tâm thực nghiệm công nghệ cao (Chủ thể thực hiện: Ban Giám đốc Học viện và các Khoa chuyên môn).

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm cơ quan quản lý nhà nước bao gồm Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Nội vụ có thể sử dụng luận văn làm tài liệu tham khảo để xây dựng quy hoạch nhân lực ngành, hoàn thiện thể chế phân cấp quản lý và thiết kế cơ chế đặt hàng đào tạo công lập.

Nhóm lãnh đạo và ban giám hiệu các trường đại học, học viện khối nông - lâm - ngư nghiệp tìm thấy trong luận văn mô hình quản trị tự chủ thực tiễn, kinh nghiệm chuyển đổi mô hình viện - trường theo định hướng ứng dụng và các giải pháp tối ưu hóa nguồn thu tài chính giai đoạn 2021-2030.

Nhóm giảng viên, nhà nghiên cứu và học viên cao học chuyên ngành Quản lý công, Quản trị giáo dục có thể khai thác khung lý thuyết tiếp cận hệ thống, bộ công cụ khảo sát thực chứng trên cỡ mẫu 185 đối tượng và hệ thống số liệu phân tích thị trường lao động giai đoạn 2014-2018.

Nhóm lãnh đạo các doanh nghiệp, tập đoàn nông nghiệp công nghệ cao có cơ sở xây dựng chiến lược hợp tác đào tạo theo đơn đặt hàng, tham gia trực tiếp vào quá trình chuẩn hóa chuẩn đầu ra và tiếp nhận nguồn nhân lực kỹ thuật chất lượng cao.

Câu hỏi thường gặp

Vì sao tỷ lệ đáp ứng nhân lực đại học ngành nông nghiệp lại sụt giảm liên tục qua các năm?

Sự sụt giảm này xuất phát từ tâm lý e ngại của người học trước mức thu nhập khởi điểm tại khu vực nông thôn còn thấp, kết hợp với làn sóng chuyển dịch sang các ngành kinh tế, dịch vụ. Dữ liệu thực tế cho thấy mức đáp ứng giảm mạnh từ 64,5% năm 2018 xuống còn 45,7% năm 2020 theo quy hoạch của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, đòi hỏi phải có chính sách học bổng và cấp bù học phí đột phá.

Cơ chế tự chủ mang lại những cơ hội và thách thức gì cho Học viện Nông nghiệp Việt Nam?

Theo Quyết định số 873/QĐ-TTg, tự chủ giúp Học viện chủ động mở ngành mới, tinh gọn bộ máy và thu hút nhân tài. Tuy nhiên, thách thức lớn nhất là áp lực tự cân đối tài chính khi mức học phí ngành nông nghiệp không thể tăng cao theo cơ chế thị trường, khiến nguồn kinh phí tái đầu tư cho các phòng thí nghiệm hiện đại gặp nhiều trở ngại.

Kinh nghiệm quản lý đào tạo đại học của Singapore và Nhật Bản gợi mở bài học gì?

Singapore áp dụng khung trách nhiệm pháp lý rõ ràng gắn 75% ngân sách tài trợ với chất lượng nghiên cứu, trong khi Nhật Bản quản lý chặt quy mô tuyển sinh và cắt giảm 1% ngân sách thường xuyên hàng năm để buộc các trường tự đổi mới. Việt Nam có thể vận dụng kinh nghiệm này bằng cách gắn ngân sách nhà nước với kết quả kiểm định và tỷ lệ sinh viên có việc làm thực tế.

Vai trò quản lý của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thay đổi như thế nào trong giai đoạn mới?

Căn cứ Nghị định số 127/2018/NĐ-CP và Luật Giáo dục đại học sửa đổi năm 2018, Bộ chuyển từ vai trò can thiệp hành chính trực tiếp sang đơn vị kiến tạo hành lang pháp lý, dự báo nhu cầu thị trường lao động và đóng vai trò khách hàng lớn thực hiện cơ chế đặt hàng đào tạo theo chỉ tiêu nhiệm vụ chính trị.

Doanh nghiệp nông nghiệp có vai trò gì trong việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực?

Doanh nghiệp đóng vai trò là đối tác đồng kiến tạo chương trình đào tạo, tài trợ thiết bị thực hành, tiếp nhận sinh viên thực tập tại các dự án nông nghiệp công nghệ cao và cam kết tuyển dụng đầu ra, góp phần nâng tỷ lệ sinh viên có việc làm đúng chuyên ngành lên trên 90%.

Kết luận

  • Luận văn hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về quản lý nhà nước đối với đào tạo nguồn nhân lực nông nghiệp chất lượng cao trong bối cảnh tự chủ đại học.
  • Đánh giá thực trạng đào tạo tại Học viện Nông nghiệp Việt Nam giai đoạn 2014-2018, làm rõ mức độ sụt giảm nguồn cung nhân lực từ 64,5% năm 2018 xuống 45,7% năm 2020.
  • Chỉ rõ 4 điểm nghẽn chính về quy mô tuyển sinh, cơ cấu ngành, chất lượng đội ngũ giảng viên và mức độ gắn kết với doanh nghiệp.
  • Đề xuất 4 nhóm giải pháp mang tính chiến lược về hoàn thiện thể chế tự chủ, triển khai cơ chế đặt hàng đào tạo, liên kết ba bên và chuẩn hóa cơ sở vật chất.
  • Đóng góp luận cứ khoa học thực tiễn giúp Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đổi mới phương thức quản lý công theo hướng giám sát chất lượng hiện đại.

Về lộ trình tiếp theo, giai đoạn 2021-2025 cần tập trung hoàn thiện cơ chế đặt hàng đào tạo và nâng tỷ lệ tự chủ tài chính lên mức 80% đến 85%; giai đoạn 2026-2030 tiến hành kiểm định quốc tế toàn bộ các chương trình đào tạo mũi nhọn. Các cơ quan quản lý, cơ sở đào tạo và cộng đồng doanh nghiệp cần tăng cường liên kết chặt chẽ để xây dựng đội ngũ nhân lực nông nghiệp tinh hoa, thúc đẩy nền nông nghiệp Việt Nam phát triển bền vững và hiện đại.