MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn thực hiện đề tài Trong sự nghiệp đổi mới giáo dục hiện nay, thực hiện Theo Nghị quyết Đại hội Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, nội dung nêu rõ: “Phải tiếp tục đổi mới đồng bộ mục tiêu, nội dung, chương trình, phương thức, phương pháp GD&ĐT theo hướng hiện đại, hội nhập quốc tế, phát triển con người toàn diện, đáp ứng những yêu cầu mới của phát triển kinh tế - xã hội, khoa học và công nghệ, thích ứng với cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021). Chất lượng GD nói chung và chất lượng CSGD trẻ MN nói riêng luôn nhận được quan tâm của xã hội vì tầm quan trọng hàng đầu của nó đối với sự nghiệp phát triển quốc gia. Nhiệm vụ CSGD trẻ mầm non nhằm phát triển toàn diện cho trẻ về mọi mặt được tiến hành trong quá trình CSGD trẻ ở các trường MN.
Mọi hoạt động GD được thực hiện đều hướng tới mục đích góp phần đảm bảo, nâng cao chất lượng GD, phấn đấu để trở thành một nền GD chất lượng cao (Trịnh Văn Tùng, 2017). Thông tư số 01/VBHN-BGDĐT ngày 13/4/2021 của Bộ trưởng BGD &ĐT đã xác định cụ thể mục tiêu CSGD trẻ MN là: “Giúp trẻ em phát triển toàn diện về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách con người, chuẩn bị đầy đủ tâm thế cho trẻ em bước vào lớp một; hình thành và phát triển ở trẻ những chức năng tâm sinh lí, năng lực và phẩm chất mang tính nền tảng, những kĩ năng sống cần thiết phù hợp với lứa tuổi, khơi dậy và phát triển tối đa những khả năng tiềm ẩn, đặt nền tảng cho việc học ở các cấp học tiếp theo và cho việc học tập suốt đời” (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2021) Thực tiễn thời gian qua, việc triển khai quản lý hoạt động CSGD trẻ tại các trường MN nói chung, MN công lập nói riêng theo tiếp cận ĐBCL vẫn gặp những trở ngại nhất định. Nguyên nhân là do tính chất phức tạp, đa dạng, nhiều chiều của vấn đề, hiểu đầy đủ về ĐBCL giáo dục cũng như việc xây dựng quy trình, xác lập chuẩn, vận hành, kiểm tra đánh giá và cải tiến theo tiếp cận ĐBCL một cách khoa học, phù hợp với thực tiễn phát triển của xã hội và ngành GD 1 trong hoàn cảnh cụ thể quả không đơn giản (Đặng Thành Hưng , 2015). Bến Cát là một thị xã thuộc tỉnh Bình Dương, gồm 07 phường/ 01 xã có 9 trường mầm non công lập, 45 trường mầm non ngoài công lập và 102 nhóm lớp độc lập tư thục.
QL chất lượng hoạt động CSGD cho trẻ em ở các trường MN công lập luôn được chính quyền địa phương, ngành GD& ĐT thị xã quan tâm. Tuy nhiên, QL hoạt động CSGD cho trẻ tại các trường MN công lập theo tiếp cận ĐBCL trên địa bàn thị xã còn chưa đi vào chiều sâu, mang tính hình thức, nội dung QL hoạt động CSGD trẻ còn cảm tính chưa dựa vào các tiêu chuẩn, tiêu chí đánh giá theo quy trình ĐBCL nên việc CSGD trẻ còn kém hiệu quả (Phòng GD&ĐT thị xã Bến Cát, 2021). Để đáp ứng nhu cầu đổi mới chương trình GDMN hiện nay đòi hỏi nhà QLGD hoàn thành tốt nhiệm vụ trong xây dựng kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo thực hiện, công tác kiểm tra đánh giá và phân công nguồn nhân lực cũng như xây dựng quy trình ĐBCL và bộ tiêu chuẩn để đánh giá; vận hành các quy trình quản lý, kiểm tra đánh giá và cải tiến các quy trình ĐBCL từ khâu đầu vào, quá trình và đầu ra Bản thân tác giả là một CBQL phụ trách chuyên môn của trường MN công lập trên địa bàn thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương, tác giả đã nghiên cứu rõ mục tiêu, nhiệm vụ của GDMN và thấy rằng: song song với việc nâng cao chất lượng nuôi dưỡng trẻ, việc nâng cao chất lượng quản lý hoạt động CSGD trẻ tại các trường MN thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương theo tiếp cận ĐBCL là việc làm vô cùng cần thiết. Vì vậy, tìm ra các biện pháp hiệu quả trong công tác QL để giúp nâng cao chất lượng CSGD trẻ theo tiếp cận ĐBCL là điều khiến tác giả đặc biệt quan tâm.
Với những lí do trên, tác giả đã chọn đề tài: "Quản lý hoạt động chăm sóc giáo dục trẻ tại các trường mầm non công lập thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương theo tiếp cận Đảm bảo chất lượng” làm đề tài nghiên cứu luận văn cao học ngành quản lý giáo dục. Mục đích nghiên cứu Trên cơ sở nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý hoạt động CSGD trẻ tại các trường MN công lập theo tiếp cận ĐBCL, đề tài xác định thực trạng QL hoạt động CSGD trẻ tại các trường MN công lập thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương 2 theo tiếp cận ĐBCL; từ đó đề xuất một số biện pháp để QL hoạt động CSGD trẻ tại các trường MN công lập thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương theo tiếp cận ĐBCL. Tổng quan tình hình nghiên cứu Giáo dục và đào tạo có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của mỗi quốc gia. Nhiều quốc gia trên thế giới đã đạt được những thành tựu to lớn trong quá trình phát triển nhờ đầu tư cho GD&ĐT.
Năm 1992, Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên Hợp Quốc UNESCO đã chỉ rõ: Không có sự tiến bộ và thành đạt nào mà có thể tách khỏi sự tiến bộ và thành đạt trong lĩnh vực GD. GDMN là bậc học đặt nền móng cho sự phát triển về sức khỏe thể chất, sức khỏe tinh thần, nhận thức, tình cảm xã hội và thẩm mỹ cho trẻ em. Những kỹ năng mà trẻ được tiếp thu qua chương trình CSGD mầm non sẽ là chìa khoá để trẻ nhận thức và chiếm lĩnh kho tàng tri thức của dân tộc và nhân loại sau này. Chính vì vậy GDMN nói chung và CSGD trẻ nói riêng là vấn đề được nhiều nhà khoa học trên thế giới và trong nước quan tâm nghiên cứu.
Các nghiên cứu ở nước ngoài Vấn đề CSGD trẻ em đã được đề cập đến ngay từ thời cổ đại. Nhưng thời cổ đại người ta nghiên cứu CSGD trẻ không tách khỏi triết học và lôgíc học cũng như sự phân biệt giai cấp thống trị và bị trị (Trần Thái Đỉnh, 2005). Năm 1885, ở New England thuộc Hoa Kỳ đã thành lập một tổ chức phi chính phủ gọi là Hội các trường học và trường cao đẳng của New England (NE). Đây là một tổ chức kiểm định chất lượng GD địa phương đầu tiên thuộc phạm vi vùng gồm một số bang với mục đích là: đẩy mạnh sự nghiệp GD bằng cách cố gắng giữ được các tiêu chuẩn đối với mọi HĐ của cơ sở đó mà không phải chứng minh chất lượng một bộ phận nào của cơ sở đó.
Nước Mỹ ngày nay, quy định xây dựng chương trình GDMN riêng phù hợp với điều kiện của mỗi Bang. Việc GD trẻ em ở độ tuổi MN thường mang tính bắt buộc theo các tiêu chuẩn chất lượng cơ bản được thực hiện dựa vào nền GD phát triển của quốc gia. Theo Học viện Nhi khoa Hoa Kỳ, Hiệp hội Y tế Công cộng Hoa Kỳ và Trung tâm Tài nguyên Quốc gia về Sức khỏe và An toàn trong trong chăm sóc trẻ cho thấy rằng, việc chăm sóc trẻ ở 3 trường rất khó khăn và tạo nhiều áp lực cho GV bởi trong thực tế người chăm sóc hoặc GV thường chỉ có một mình và trẻ thì không ngủ cùng một lúc. GV phải thường xuyên giám sát trẻ đang ngủ, trẻ phải được đặt ở vị trí để chăm sóc phù hợp không ảnh hưởng đến trẻ khác, quan sát và giúp trẻ ngủ đúng cách.
Chính vì vậy, nghiên cứu đã đưa ra những tiêu chuẩn thực hiện an toàn và đảm bảo trong chăm sóc sức khỏe cho trẻ, cũng như hướng dẫn cho đội ngũ GV thực hiện theo tiêu chuẩn đề ra (American Academy of Pediatrics, 2011). Ở các nước khu vực Châu Á - Thái Bình Dương: nền GDMN của Nhật Bản có bình đẳng cho mọi trẻ em và mang tính xã hội hóa rất cao, không có chương trình GDMN chung do nhà nước quy định mà mỗi trường tự xây dựng cho mình chương trình GD thích hợp với sự phát triển trí tuệ và thể chất của trẻ. Căn cứ vào điều kiện, hoàn cảnh của từng trường, của địa phương; phù hợp với Luật GD và Chuẩn quốc gia về chương trình GDMN theo 4 mục tiêu chung (GD sức khỏe, GD về quan hệ chung quanh, GD ngôn ngữ và biểu đạt, GD môi trường). Về phương pháp và hình thức GD rất đa dạng và phong phú, có hệ số tính điểm để thể hiện rõ những tiêu chí đánh giá quan trọng và đảm bảo chất lượng CSGD trẻ tại các trung tâm nuôi dạy trẻ nói riêng.
Theo Tsunesaburo Makiguchi, môi trường GD tích cực sẽ giúp trẻ được tham gia an toàn trong các HĐ trải nghiệm, trẻ được vận động tích cực và khám phá các giá trị qua thực tiễn cuộc sống hằng ngày. Như vậy, để giúp trẻ phát triển toàn diện về thể chất và tinh thần, cũng như nâng cao chất lượng trong các HĐ chăm sóc và nuôi dưỡng trẻ, nhà trường cần phải xây dựng môi trường GD tích cực trong đó mọi HĐ đều hướng đến đứa trẻ với đầy đủ những trang thiết bị an toàn, đa dạng và sinh động phù hợp với trẻ (Makiguchi, 1994). Peter Mittler, đã đề cập đến việc thay đổi môi trường GD nhà trường và hệ thống QLGD, theo Peter Mittler việc thay đổi môi trường GD và hệ thống QLGD có vai trò rất quan trọng đối với CSGD trẻ nhằm đảm bảo an toàn cho trẻ phát triển toàn diện. Quan điểm của tác giả được tập trung vào việc điều chỉnh và sắp xếp chương trình phù hợp, lựa chọn GV, vai trò năng lực của GV, sự tham gia 4 của phụ huynh học sinh và tất cả phải được xây dựng kế hoạch cụ thể và theo giai đoạn phát triển của trẻ (Peter Mittler, 2000).
Ngoài ra, Karemera, D. cho rằng trẻ phát triển còn tùy thuộc vào khả năng chuyên môn nghề nghiệp của đội ngũ GV, GV phải có những phẩm chất đạo đức cá nhân, phẩm chất đạo đức nghề, chuyên môn phù hợp và những phẩm chất luôn ảnh hưởng lớn đến việc hình thành thái độ và đáp ứng mọi nhu cầu, nguyện vọng của trẻ, và hỗ trợ trẻ được phát triển toàn diện về thế chất và tinh thần (Karemera, 2003). Chương trình chăm sóc và phát triển trẻ thơ từ những năm nhỏ tuổi tác giả Robert.