Chương 1: ĐẶC ĐIỀM NGỮ NGHĨA - NGỮ PHÁP CỦA NHỮNG PHƯƠNG TIỆN NGÔN NGỮ CHỈ LƯỢNG TRONG TIẾNG VIỆT 1. Khái quát về những phương tiện ngôn ngữ chỉ lượng trong tiếng Việt Mặc dù những phương tiện ngôn ngữ chỉ lượng có số lượng không nhiều so với vốn từ vựng chung, nhưng nó có vui trò hết sức quan trọng trong hệ thống ngôn ngữ và trong sử dụng. Những phương tiện này đã cùng với một số phương tiện ngôn ngữ khác tạo nên một cái trục mà quay quanh nó là các vấn để ý nghĩa của từ, từ loại, câu trúc ngữ đoạn, phạm trù ngữ pháp, chức năng cú pháp, v. Trong tiếng Việt, phương tiện ngôn ngữ chỉ lượng không chỉ là những đơn vị ở câp độ từ và những kết hợp lớn hơn từ mà còn là những đơn vị từ vựng nhỏ hơn từ.
Nghĩa là những phương tiện ngôn ngữ chỉ lượng có thé là từ, ngữ và có thể cả hình vị, Ở cấp độ hình vị, những phương tiện ngôn ngữ chỉ lượng bao gồm các tiếng Hán Việt như; bán, nhát, nhị, tam, tứ, ngữ, lục, bách, v. Việc xem các phương tiện ngôn ngữ này là hình vị chủ yếu là dựa vào chỗ khả năng hoạt động độc lập của chúng bị hạn chế, dù các phương tiện ngôn ngữ này thỏa mãn nhiều tiêu chuẩn của từ: có nghĩa, hoàn chỉnh về ngữ âm, hoàn chinh về chữ viết và hoàn chỉnh về cầu tạo. Vi dụ; bán ne: bán kết: nhất ngôn; nhất tự: tam giác: bách niên; V. Trong vi dụ trên, "bán, nhất, tam, bách" có khả năng hoạt động độc lập rất hạn chế so với các đơn vị có nghĩa tương đương, như: nửa, một, ba, răm!! Trong các ngôn ngữ Án - Âu, tiêu biểu là tiếng Anh cũng có những hình vị có ý nghĩa chỉ lượng.
Nhung céc hình vị này không bao giờ đứng tách ra khỏi từ mả nó nằm ngay trong từ, như: ðiseet (chia đôi), ñexagon (hình sáu cạnh), megaron (triệu tân), v. Ý nghĩa lượng trong tiếng Việt được thể hiện chủ yếu bằng các đơn vị ở cấp độ từ, chẳng hạn: mội, hai, ba, nứa, đôi, những, các, vài, v. Để biểu thị ý nghĩa lượng, tiếng Việt còn sử dụng hình thức từ ngữ lặp, lay. Chẳng hạn, muốn chỉ số lượng nhiều sự vật hoặc hoạt động, trạng thái lặp đi lặp lại nhiều lần, người Việt thường dùng hình thức lặp, láy để thé hiện, như; ` Luận văn tam chấp nhận khái niệm từ iếng Việt theo cách hiểu truyền thống.
chẳng hạn coi tam giác, bch niên, ait gi vi là từ người .>_ người người ngày. > ngày ngày" nha. > nhà nhà gật --> gật gật, gat gil. Lưu ý là tiếng Việt có cách cấu tạo phương tiện ngôn ngữ chỉ lượng như: - Hai từ đơn có nghĩa chỉ lượng chính xác kết hợp lại để tạo nên một tổ hợp chỉ lượng không chính xác.
Ví dụ; hai + ba -> hai ba; ba + bảy --> ba bảy: bổn + năm --> bổn năm ~ Một từ đơn có nghĩa chỉ lượng chính xác kết hợp với một từ đơn chỉ lượng không. chính xác để tạo nên một tổ hợp có nghĩa chỉ lượng không chính xác. Vi dụ: vài ba. mười mắy, vw.
Trong tiếng Việt không thấy trường hợp hai từ đơn có nghĩa chỉ lượng không chính xác kết hợp với nhau để tạo nên một tổ hợp chỉ lượng? Vi du: *vai ba, dam ba, mười máy, v. Tiếng Việt là một ngôn ngữ đơn lập không biến hình từ. Do đó, các đặc điểm ngữ pháp của những phương tiện ngôn ngữ chỉ lượng trong tiếng Việt được biểu hiện chủ yếu bằng con đường cú pháp. Đặc biệt là đối với phạm trù số: sự đối lập giữa số đơn và số phức của danh từ tiếng Việt không thể hiện trong nội bộ từ mà thể hiện ở ngoài từ trong tương quan với những từ ngữ khác.
Ví dụ: Sự đối lập số đơn và số phức của "cái (nhà)°°và *.hững cái (nhà) ” là do yêu tố "những” qui định chứ bản thân yếu tố "cái” không có sự biến đổi hình thái để tạo ra nghĩa số nhiều và tạo nên sự đối lập giữa số đơn và số phức như trong tiếng AnhŠ Ngược lại trong tiếng Anh, sự đối lập giữa số đơn và số phức được thẻ hiện ngay trong nội bộ từ theo các hình thức thêm hậu tổ (suffix) bay biến đổi hình thái của chính tố (đối với các danh từ bất qui tắc) 2 Trường hợp * vài mươi" vốn à vải mươi. Tương tự như: bai mươi, ba mươi, bến mươi, v.v vốn là hai mươi, ba mươi, bên mươi, v. * Những biễu thức ( hình thức iu đạt- expresion) có dầu(*) à những biểu thức không thể chấp nhân được * Những từ ngữ trong ngoặc don() là những từ ngữ có thé lược bỏ. Căn Nhà và những danh từ khối tương tự không có sự đối lập về số, 10 Ví dụ Số đơn Số phức house houses foot feet man men 'Như đã trình bày ở trên, các phương tiện chỉ lượng trong tiếng Việt có thể là hình vị, từ, ngữ hoặc hình thức láy.
Tuy nhiên luận văn này chủ yếu xem xét các phương tiện chỉ lượng ở cấp độ từ và tương đương với từ mà đôi khi chúng tôi gọi chung là từ ngữ. Đặc điểm ngữ nghĩa của những phương tiện ngôn ngữ chỉ lượng trong tiếng Việt 1. Đối lập giữa các phương tiện ngôn ngữ chỉ lượng theo tiêu chí ngữ nghĩa |+ chính xác] 1. Những phương tiện ngôn ngữ chỉ lượng [+ chính xác] 'Những phương tiện ngôn ngữ chỉ lượng [+ chính xác] gắn liền với việc biểu thị một ý niêm về lượng chính xác (về số lượng, phân lượng, v.
Thuộc những phương tiện ngôn ngữ chỉ lượng [+ chính xác] trước hết phải kể đến những phương tiện ngôn ngữ sau: ~ Những phương tiện ngôn ngữ chỉ lượng số [+ chính xác]; một, hai, ba, bốn, năm, mười.y - Những phương tiện ngôn ngữ chỉ phân lượng [+ chính xác]: rười, một phần hai, hai phần tw, ba phan te, v. ~ Những phương tiện ngôn ngữ chỉ lượng có tính thực thể [+ chính xác]: nứa, đôi, cặp, chọc, tú, trăm, nghìn, vạn, triệu, v. Những phương tiện ngôn ngữ chỉ lượng số [+ chính xác]; một, hai, ba, bốn, năm, mười, vụ: Tất cả những phương tiện ngôn ngữ thuộc nhóm này đều có nội dung biểu hiện số lượng [+ chính xác] dùng để đếm, dé tính toán về các sự vật khác nhau. Vi du: một con én, hai qua na, năm mét vải, mười hòn bị, v.
11 Trong các vi dụ trên, "mội, hai, năm. mười" có chức năng định lượng số cá thể sự vật được nói đến một cách chính xác. Tuy nhiên, khi dùng trong một số ngữ cảnh nhất định hầu như toàn bộ những phương tiện ngôn ngữ chỉ lượng số [+ chính xác] đều có thẻ mang nghĩa chỉ lượng số [~ chính xác] Ví dụ: xong từ tám đời: ba hẳn chín vía: năm cba ba mẹ, v. Trong ví dụ trên, các phương tiện ngôn ngữ chỉ lượng "ám, Öa, năm, chín" chỉ lượng không chính xác (xin xem thêm 2.
Những phương tiện ngôn ngữ chỉ phân lượng [+ chính xác]: nửa, rười, rưởi. một phân hai, hai phần we, ba phan tư, năm phần tư, bảy phân tám, chin phén mười, v.v: Đây là nhóm các phương tiện ngôn ngữ có ý nghĩa chỉ phân lượng [+ chính xác]. ở đây có một điều thú vị là ngay trước khi dùng các từ ngữ chỉ phân lượng - phân số (một phan hai, hai phần ba, ba phần tư, bốn phần năm, hai phần tư, năm phần mười, hai phần mười, vv.), người nói (viết) đã ngầm phân chia (định lượng) cái đơn vị mà người nói (viết) dùng miêu tả ra làm nhiều phần bằng nhau, rồi mới xác định số phần hiện hữu của đối tượng cần miêu tả. Nếu như số phẫn hiện hữu của đối tượng cần miêu tả ít hơn số phần được ngầm phân chia trước đó thì người nói (viết) dùng một từ ngữ chỉ phân lượng - phân số để biểu hiện.
Ching han, khi nói "còn ba phân ø chai dầu” thì trước đó người nói (viết) đã ngầm chia cái đơn vi đo lường (chai) ra làm bốn phản, rồi sau đó xác định số phần dầu hiện có trong cái đơn vị đo lường ấy. Như vậy các phương tiện ngôn ngữ chỉ phân lượng không cho biết số lượng của vật như các phương tiện chỉ lượng số. Những phương tiện ngôn ngữ chỉ phân lượng (một phần hai, hai phan ba, ba phần tư, bốn phân năm, hai phân tw, năm phần mười, hai phẫn mười, v.) chỉ dùng đễ định lượng cho các đối tượng được xem là một thể thống nhất (số đơn). Chăng hạn, ly cả phê, chai bia, qua dưa, thúng đậu, v.
phải được xem là một thể duy nhất khi dùng phương tiên ngôn ngữ chỉ phân lượng (một phần hai, hai phần ba, ba phan tư, bốn phần năm, hai phần tư, năm phần mười, hai phần mười, v.) trước những từ ngữ chỉ những đối tượng này. Cần chú ý đến các phương tiện ngôn ngữ chỉ phân lượng có ý nghĩa tương đồng, nhau, như: nứa, một phân hai, hai phân te, năm phần mười, ba phân sáu, v. để tri nhận và phân tích có hiệu quả. Một phần hai, hai phần tư, năm phần mười đều có ý nghĩa chỉ một nửa số phân trong tông thể của một sự vật được nói đến và bao giờ cũng đứng trước 12 danh từ đơn vị như "ửz” nhưng khi sử dụng chúng bao giờ cũng có những nét nghĩa khác nhau.
“Nứa" chỉ a của một tổng thể, còn một phân hai, hai phần we, ndm phén medi chỉ một nữa của một tập hợp nhiều đơn vị và tất cả những đơn vị đó mới được xem là một tổng thể. Chẳng hạn, trước khi nói (viết): “mửa quả cam, nửa chén cơm, nữa thúng thóc" người nói (viết) xem “quả cam, chén cơm, thúng thóc” là một đơn vị, một tổng thể nhưng khi nói "một phần hai quá cam: hai phần tư cái bánh: năm phần mười chai dâu, v. ” người nói (viết) đã phân chia “qua cam, cái bánh, chai dầu” thành nhiều don vi (phan) trong một tông thê. Có một đặc trưng nữa (tuy không thật rõ rang lắm) dé phân biệt cách sử dụng giữa nứa và một phan hai, hai phần te, năm phần mười, v.v: Một phần hai, hai phần tư, năm phần mười, v.
dùng đễ diễn đạt ý nghĩa phân lượng có tính chính xác cao và có tinh "bác học”! Trong khi đó nữa chỉ có thể dùng miêu tả số lượng sự vật có tính chính xác tương đối và có tính "bình dân”! Riêng phương tiện ngôn ngữ chỉ phân lượng rười (zưởi)° thì có khác đôi chit. Rudi dùng để chỉ lượng bằng một nửa của số một (số lượng chỉ một đơn vị).