CHƯƠNG 1: Có nhiều khái niệm về lãi suất cho vay nhưng tổng quát lãi suất cho vay là chi phí thể hiện theo tỷ lệ phần trăm trên số tiền vay mà bên vay phải trả cho bên cho vay để được sử dụng số vốn vay trong một thời gian nhất định. Trên quan điểm NHTM, lãi suất cho vay cần bao gồm: chi phí huy động vốn, chi phí quản lý và thực hiện khoản vay, bù đắp được các rủi ro trong hoạt động cho vay, đem lại lợi nhuận hợp lý cho NHTM. Khi cho vay các NHTM luôn mong muốn cho vay với lãi suất cao để bù đắp hoàn toàn rủi ro liên quan. Tuy nhiên, việc xác định lãi suất cho vay không thể tuỳ tiện theo ý chủ quan của ngân hàng.
Xác định lãi suất cho vay phải căn cứ trên tình hình của từng khách hàng, từng món vay cụ thể. Do đó, việc xây dựng một phương pháp để xác định lãi suất cho vay là một việc làm hết sức cần thiết ¶· TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trang 16 CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG VÀ XÁC ĐỊNH LÃI SUẤT CHO VAY TẠI CÁC NHTM VIỆT NAM " *** # 2. Nghiệp vụ tín dụng một nghiệp vụ quan trọng trong hoạt động kinh doanh của NHTM. Sự hình thành và phát triễn hệ thống NHTM Việt Nam qua các thời kỳ.1 Lịch sử về NHTM: NHTM được hình thành và phát triển cùng với quá trình phát triển của xã hội loài người.
NHTM là loại ngân hàng giao dịch trực tiếp với khách hàng tổ chức, cá nhân bằng cách nhận tiền gởi, tiền tiết kiệm rồi sử dụng tiền đó để cho vay; chiết khấu; cung cấp các dịch vụ thanh toán và các dịch vụ ngân hàng khác.Rose 5 “Ngân hàng là một trong những tổ chức tài chính quan trọng nhất của nền kinh tế, Ngân hàng là người cho vay chủ yếu đối với hàng triệu hộ tiêu dùng và với hầu hết các Cơ quan, Chính quyền địa phương. Khi DN và người tiêu dùng phải thanh toán cho các khoản mua hàng hóa, dịch vụ, họ thường sử dụng séc, thẻ tín dụng, tài khoản điện tử của Ngân hàng. Trong mọi thời kỳ, ngân hàng là một trong những thành viên quan trọng nhất trên thị trường tín phiếu và trái phiếu do chính quyền địa phương phát hành để tài trợ cho các công trình công cộng, từ những hội trường, sân bóng đá, sân bay đến đường cao tốc. Ngân hàng cũng là một trong những tổ chức tài chính cung cấp vốn lưu động quan trọng nhất cho các DN”.Reed và Edward K.Gill 6 thì "NHTM là một tổ chức kinh doanh được điều hành một cách chặt chẽ nhất.
Ít có lĩnh vực kinh doanh nào bị kiểm tra thường xuyên và quản trị chặt chẽ bởi các nhà chức trách và các nhà quản trị để xem chúng có hoạt động phù hợp với những nguyên tắc của luật pháp và những quy định hay không. Sở dĩ có điều đó là do bản chất cộng đồng của nó". 5 Commercial bank management-International Edition 2002 6 Commercial banking TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trang 17 Theo quy định trong luật các Tổ chức tín dụng 1997 thì "Ngân hàng là loại hình TCTD được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan. Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng gồm NHTM, ngân hàng phát triển, ngân hàng đầu tư, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác và các loại hình ngân hàng khác.
Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng dịch vụ thanh toán". Như vậy, có thể nói NHTM là một định chế tài chính trung gian quan trọng, có ảnh hưởng đến nhiều mặt và sâu rộng trong nền kinh tế thị trường. Thông qua hệ thống định chế tài chính trung gian này mà những nguồn tiền nhàn rỗi nằm rải rác trong xã hội được tập trung lại và được sử dụng để cho các tổ chức, cá nhân vay phục vụ phát triển kinh tế-xã hội.2 Sự hình thành và phát triễn hệ thống Ngân hàng ở Việt Nam 2.1 Thời kỳ kế hoạch hóa tập trung đến trước năm 1986 Khoảng thời gian từ trước Chiến tranh thế giới lần I, tại Việt Nam chỉ có 3 ngân hàng nước ngoài hoạt động là Hương Cảng ngân hàng (1865), Đông Dương ngân hàng (1875), và chi nhánh Chartered bank (1904). Sau Chiến tranh thế giới lần I, một số ngân hàng nước ngoài khác được thành lập là Đông Á ngân hàng (1921), NHTM Pháp (1922).
Năm 1927 một số nhà tư sản Việt Nam phối hợp góp vốn thành lập Ngân hàng Việt Nam-là ngân hàng thuần túy của người Việt Nam và phục vụ người Việt Nam. Từ sau Chiến tranh thế giới lần thứ II, có thêm 3 ngân hàng nước ngoài đăng ký hoạt động tại Việt Nam là Trung Quốc ngân hàng (1946), Giao thông ngân hàng- Quốc gia thương mãi (1947) và Kỹ nghệ ngân hàng (1947). Từ sau 1954, đất nước bị chia cắt thành 2 miền: Miền Bắc: Ngân hàng Quốc gia Việt Nam được thành lập ngày 05/06/1951 theo sắc lệnh số 15/SL của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Sau đó, Ngân hàng Quốc gia Việt Nam đổi tên thành Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và có hệ thống tổ chức thống TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trang 18 nhất từ Trung ương đến địa phương theo địa giới hành chính do Nhà nước độc quyền sở hữu và quản lý.
Miền Nam: Ngày 31/12/1954 Bảo Đại ký dụ số 48 thành lập Ngân hàng Quốc gia cho Miền Nam. Từ 1954 đến 1975 hệ thống ngân hàng ở Miền Nam được tổ chức theo hệ thống ngân hàng các nước tư bản chủ nghĩa nhưng mang nét đặc thù Việt Nam. Bao gồm: - NHTW thành lập 1954 với tên Ngân hàng Quốc Gia Việt Nam. - Ngân hàng phát triển thuộc sở hữu quốc doanh gồm Ngân hàng Phát triển nông nghiệp có 25 chi nhánh ở khắp Miền Nam và Ngân hàng Phát triển kỹ nghệ được thành lập năm 1971.
- Các cơ sở tín dụng và tiết kiệm công lập, bao gồm Quỹ tiết kiệm Sài Gòn, Tổng nha ngân khố và Ty ngân khố toàn quốc, Quỹ tiểu thương tín dụng, các Trung tâm. - Các NHTM: gồm 17 NHTM tư và 2 NHTM công với tổng cộng 144 chi nhánh ở Sài Gòn và các tỉnh. - Các ngân hàng nước ngoài, bao gồm 14 ngân hàng với 21 chi nhánh ở khắp Miền Nam. Sau ngày thống nhất đất nước 30/04/1975, hệ thống mạng lưới Ngân hàng tại miền Nam được Nhà nước ta tiếp nhận và hoạt động giống mô hình ngân hàng tại miền Bắc.
Đây là hệ thống ngân hàng một cấp: NHNN Việt Nam → Chi nhánh NHNN tỉnh, thành phố → Chi nhánh NHNN quận huyện → khách hàng.2 Thời kỳ nền kinh tế chuyển sang kinh tế thị trường - từ 1986 đến nay: Có thể nói rằng từ năm 1986 trở đi là các đợt cải tổ ngân hàng, có thể chia ra các đợt cải tổ như sau: Đợt cải tổ lần thứ 1 (từ năm 1987 đến năm 1990): Bắt đầu từ năm 1987 nhằm làm cho hệ thống ngân hàng Việt Nam thích ứng với cơ chế quản lý kinh doanh xã hội chủ nghĩa, thực hiện theo Nghị định 53/HĐBT 26/03/1988 của Hội Đồng Bộ Trưởng. Có hai điểm cải tiến rõ nét là: TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trang 19 - Thứ nhất: tách bộ phận Quản lý quỹ Ngân sách Nhà nước ra khỏi NHNN và hình thành Hệ thống Kho bạc Nhà nước. - Thứ hai: thành lập hệ thống Ngân hàng chuyên doanh và tách chức năng kinh doanh của NHNN giao về cho các ngân hàng chuyên doanh. Như vậy, hệ thống ngân hàng Việt Nam được tổ chức thành hệ thống ngân hàng 2 cấp bao gồm: NHNN và các Ngân hàng chuyên doanh (Ngân hàng Công Thương Việt Nam, Ngân hàng Phát Triển Nông nghiệp Việt Nam, Ngân hàng Đầu Tư Xây Dựng Việt Nam và Ngân hàng Ngoại Thương Việt Nam) kinh doanh theo những lĩnh vực tương ứng tên gọi.
Tuy nhiên, Nghị định 53/HĐBT vẫn còn bộc lộ những khuyết điểm: độc quyền Nhà nước, chưa cho phép các thành phần kinh tế khác tham gia hoạt động ngân hàng; chưa chú trọng đến vai trò hoạt động như một NHTW của NHNN; hệ thống ngân hàng tổ chức theo kiểu này còn khác nhiều so với hệ thống ngân hàng của các nước có nền kinh tế thị trường. Đợt cải tổ lần thứ 2 (từ năm 1990 đến năm 2000): - Yêu cầu chuyển đổi từ cơ chế quản lý kinh doanh tập trung bao cấp sang cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước cùng với chủ trương phát triển nền kinh tế đa thành phần đã tạo nên áp lực phải tiếp tục cải tổ hệ thống ngân hàng. Ngày 23/05/1990 Hội Đồng Nhà nước ban hành pháp lệnh về NHNN và pháp lệnh về các NHNN đóng vai trò NHTW. - Các TCTD (gồm NHTM, ngân hàng đầu tư phát triển, công ty tài chính và hợp tác xã tín dụng) đóng vai trò ngân hàng trung gian.
Những điểm cải tiến: - Xóa bỏ được tính chất độc quyền Nhà nước trong hoạt động ngân hàng bằng cách cho phép thành lập NHTM thuộc nhiều loại hình sở hữu khác nhau. Đã có sự hiện diện và hoạt động của ngân hàng liên doanh và chi nhánh ngân hàng nước ngoài góp phần hỗ trợ cho việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài cũng như truyền bá công nghệ ngân hàng hiện đại vào Việt Nam. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trang 20 Bắt đầu chú trọng đến vai trò NHTW của NHNN thể hiện ở chỗ quy định và quản lý dự trữ bắt buộc đối với các NHTM. Điều này nhằm bảo đảm an toàn cho cả hệ thống ngân hàng, tránh những sự cố đổ vỡ như đã từng xảy ra.TCTD đánh dấu thời kỳ cải tổ hệ thống ngân hàng Việt Nam lần thứ hai.
Hệ thống ngân hàng Việt Nam lúc này được tổ chức gần giống hệ thống ngân hàng các nước có nền kinh tế thị trường: Đợt cải tổ lần thứ 3 (từ năm 2000 đến nay): Rút kinh nghiệm sau 7 năm thực hiện, Pháp lệnh NHNN và Pháp lệnh các TCTD đã được sửa đổi và trở thành Luật NHNN 06/1997/QHX và Luật sửa đổi bổ sung 10/2003/QH11; Luật các TCTD 02/1997/QH10 và Luật sửa đổi bổ sung 20/2004/QH11. Hệ thống Ngân hàng ở Việt Nam bao gồm: - NHNN đóng vai trò NHTW. - Các TCTD đóng vai trò định chế tài chính trung gian. TCTD là DN được thành lập theo quy định của luật pháp để hoạt động kinh doanh tiền tệ, làm dịch vụ ngân hàng, với nội dung nhận tiền gửi và sử dụng tiền gửi để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán.