Chương 1: Trình bày tổng quan về các công nghệ truyền dẫn trên đường dây bao gồm công nghệ truyền dẫn dùng modem băng tần thoại, công nghệ truyền dẫn đường dây thuê bao số. Giới thiệu các loại DSL hiện đang sử dụng trong truyền thông. Chương 2: Trình bày về việc xây dựng hệ thống cung cấp dịch vụ đường truyền băng thông rộng ADSL trên thực tế (Hà Nội) cũng như các thành phần không thể thiếu khi xây dựng hệ thống này. Lâm Quang Trung 6 Cao Học K8Đ 2001-2003 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn thạc sỹ XÂY DỰNG MẠNG ADSL TẠI HÀ NỘI Chương 3: Trình bày về các thuật toán cấp phát bit cho các kênh truyền con của hệ thống truyền thông đa kênh.
Áp dụng thuật toán của Chow vào thực tế. So sánh kết quả tính toán trên lý thuyết với kết quả thực hiện được trên hệ thống thực tế. Kết luận: Tóm tắt kết quả đạt được của luận văn và đề xuất hướng nghiên cứu trong thời gian tới. Trong thời gian thực hiện luận văn này, tôi đã được sự hỗ trợ, khuyến khích và động viên của rất nhiều người, đó là gia đình tôi, các thầy cô, bạn học và đồng nghiệp.
Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với thầy PGS. Nguyễn Viết Kính, người đã tận tình hướng dẫn tôi hoàn thành bản luận văn này. Thầy cũng là người có nhiều ý kiến chân thành và quý báu trong quá trình tiếp cận và giải quyết vấn đề. Gia đình tôi, bố mẹ và các anh chị, đã luôn khuyến khích, động viên và tạo điều kiện tốt nhất để tôi hoàn thành tốt khóa học và luận văn này.
Nhân đây, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn các thầy cô tại Khoa Công Nghệ - ĐHQG Hà Nội, những người đã trang bị cho tôi kiến thức trong suốt bốn năm học Đại học và hai năm học Cao học. Và tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới các bạn học và đồng nghiệp, đã khuyến khích, động viên và giúp đỡ tôi rất nhiều để tôi có thể hoàn thành tốt công việc. Lâm Quang Trung 7 Cao Học K8Đ 2001-2003 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn thạc sỹ XÂY DỰNG MẠNG ADSL TẠI HÀ NỘI CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CÔNG NGHỆ TRUYỀN DẪN TRÊN ĐƢỜNG DÂY 1. Công nghệ truyền dẫn bằng modem băng tần thoại Các modem băng tần thoại được giới thiệu vào cuối những năm 1950 với chức năng gửi dữ liệu qua mạng điện thoại công cộng, xem hình 1.
Dữ liệu truyền qua mạng điện thoại công cộng phải được điều chế do mạng điện thoại PSTN chỉ truyền các tín hiệu nằm trong dải tần số từ 200 Hz đến 3400 Hz. Dữ liệu chưa điều chế đòi hỏi các tần số truyền dẫn gần 0 Hz. Modem biến đổi các đặc tính tần số của dữ liệu vào tín hiệu tiếng nói để có thể truyền qua được PSTN. Vì thế, dữ liệu điều chế sẽ xuất hiện dưới dạng một cuộc gọi thoại thông thường đối với PSTN [15,4,17].1: Mô hình tham chiếu modem băng tần thoại Một trong những modem đầu tiên, modem AT&T Bell 103, thực hiện truyền dẫn song công, không đồng bộ, tốc độ 300 b/s, sử dụng điều chế FSK.21 tương tự nhưng không tương thích với modem Bell 103.
Vài năm sau đó, các modem Bell 202 ra đời, tăng tốc độ truyền dữ liệu lên 1200 b/s, sử dụng truyền dẫn FSK bán song công. Vào cuối năm 1973, Lâm Quang Trung 8 Cao Học K8Đ 2001-2003 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn thạc sỹ XÂY DỰNG MẠNG ADSL TẠI HÀ NỘI giới thiệu modem VA3400, modem 1200 b/s song công đầu tiên, sử dụng điều chế PSK. Vài năm sau, modem Bell 212 và sau đó là CCITT V.22 cho phép truyền dẫn song công tốc độ 1200 b/s, sử dụng điều chế PSK.22 bis cho phép truyền song công tốc độ 2400 b/s.32 giới thiệu mã lưới và thực hiện một bước tiến táo bạo về truyền dẫn thông tin có triệt tiếng vọng trong cả hai hướng, sử dụng trong cùng dải tần số. Các modem thế hệ trước V.32 sử dụng hai băng tần khác nhau cho hướng xuống và hướng lên (thực hiện phân kênh theo tần số - FDM).32 cho phép truyền dẫn song công tốc độ 9600 b/s.34 tiếp theo, nhờ sử dụng các kỹ thuật tối ưu băng thông, sắp xếp chòm sao và tiền mã hóa phụ thuộc kênh truyền, cho phép truyền song công tốc độ lên tới 28,8 Kb/s.
Vào năm 1995, các modem tốc độ 33,6 Kb/s đã xuất hiện trên thị trường.34 tận dụng được băng thông tới 3,6 KHz, nhiều hơn băng tần sử dụng trong điện thoại truyền thống (băng thông 3,4 KHz) một ít. Tuy nhiên, modem V.34 có thể dùng ít băng thông hơn nhờ giảm tốc độ truyền dữ liệu xuống. Bằng việc truyền tốc độ 33,6 Kb/s trên băng thông 3,6 KHz, các modem V.34 đạt hiệu suất phổ gần 10 b/s đối với mỗi Hz, một kỳ công hiếm có, tiệm cận tới giới hạn lý thuyết của truyền dẫn dữ liệu băng tần thoại. Vào cuối năm 1996, các modem PCM tốc độ 56 Kb/s xuất hiện, những modem này được chuẩn hóa trong khuyến nghị ITU V.
Trong thực tế, hiếm khi các modem PCM đạt được tốc độ truyền dẫn trên 50 Kb/s do giới hạn về công suất truyền, các chuyển đổi trung gian và suy hao đường gây ra do các cuộn tải. Lâm Quang Trung 9 Cao Học K8Đ 2001-2003 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn thạc sỹ XÂY DỰNG MẠNG ADSL TẠI HÀ NỘI Kiến trúc mạng modem PCM dựa trên cơ sở mạng PSTN của các thế hệ modem băng tần thoại trước đó. Modem PCM kết nối qua mạng PSTN như một cuộc gọi của dịch vụ thoại truyền thống PSTN POTS. Về mặt kiến trúc, modem PCM nằm giữa DSL và các modem băng tần thoại truyền thống.
Modem PCM tận dụng tới 4 KHz băng thông. Hạn chế căn bản của các modem băng tần thoại chính là ở các bộ mã hóa / giải mã hóa tiếng nói (CODEC) được đặt tại các chuyển mạch thoại nội hạt hoặc đầu cuối DLC. Bộ CODEC chuyển các tín hiệu tương tự trên đường điện thoại sang dạng biểu diễn số tốc độ 64 Kb/s, sử dụng điều chế mã xung. Tín hiệu của các modem băng tần thoại truyền trong cuộc gọi thoại PSTN không được vượt quá tốc độ bit 64 Kb/s.
Trong khuyến nghị ITU V.61, các modem băng tần thoại có thể hỗ trợ đồng thời dữ liệu và thoại đã số hóa trên một cuộc gọi PSTN.70, sử dụng điều chế V.34 và mã hóa tiếng nói trong phụ chương G.729 A, có thể truyền đồng thời tiếng nói mã hóa tốc độ 8 Kb/s và dữ liệu tốc độ 20 Kb/s sử dụng chỉ một cuộc gọi PSTN. Nhờ phụ chương G.729 A cung cấp khả năng phát hiện các khoảng lặng nên có thể truyền tốc độ dữ liệu cao hơn trong các khoảng lặng. Các kỹ thuật nén dữ liệu, được xác định rõ trong khuyến nghị V.42, có thể đạt được tốc độ truyền dữ liệu hiệu dụng cao hơn hai lần tốc độ modem được nêu ở trên. Tuy nhiên, dữ liệu có độ ngẫu nhiên cao (ví dụ trong các file nhị phân hoặc video số hóa) làm mất đi phần nào lợi ích đem lại của việc nén dữ liệu.
Việc nén dữ liệu cũng có thể áp dụng cho DSL và được thực hiện trên thông tin đã số hóa, trước khi đưa tới bộ truyền nhận DSL. Do việc nén dữ liệu, ảnh hưởng của lỗi bit truyền dẫn có thể tăng thêm nhiều. Lâm Quang Trung 10 Cao Học K8Đ 2001-2003 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn thạc sỹ XÂY DỰNG MẠNG ADSL TẠI HÀ NỘI Ưu điểm nổi bật của các modem chính là sự phổ biến khắp nơi của chúng. Một modem có thể nối tới bất cứ đường điện thoại nào và ngay lập tức gọi được cho bất cứ modem nào khác trong hàng triệu modem đang được gắn với đường điện thoại trên thế giới.
Các modem có giá thấp hơn và dễ dàng cài đặt hơn so với các thiết bị DSL. Tuy nhiên, nhu cầu về tốc độ truyền dữ liệu của các ứng dụng đã vượt quá khả năng đáp ứng được của các modem băng tần thoại. Một hạn chế khác của các modem là các cuộc gọi sẽ bị chặn khi tổng đài nội hạt quá tải, không có khả năng kết nối tới nhiều điểm đồng thời và tỷ lệ lỗi bit cao. Những hạn chế này đã được khắc phục trong DSL.
Công nghệ truyền dẫn đường dây thuê bao số Thuật ngữ DSL đề cập tới tất cả các kiểu công nghệ đường dây thuê bao số, bao gồm ADSL, HDSL, SHDSL, ISDN tốc độ cơ bản, VDSL và IDSL. Thuật ngữ xDSL cũng được sử dụng trong ngành công nghệ khi đề cập tới các kiểu DSL. Công nghệ DSL đã đưa vào một sự thay đổi mới mẻ vào lợi ích của các đường dây điện thoại. Đối với đường dây điện thoại, ban đầu được xây dựng chỉ để mang một tín hiệu thoại đơn với một kênh băng thông 3,4 KHz nhưng giờ đây chúng có thể truyền gần 100 tín hiệu thoại đã nén, hoặc tín hiệu video có chất lượng tương đương như truyền hình.
Việc truyền dẫn tín hiệu số tốc độ cao trên đường dây điện thoại đòi hỏi khả năng xử lý tín hiệu rất cao để giảm thiểu được mất mát khi truyền dẫn gây ra như: do suy hao tín hiệu, nhiễu xuyên âm từ tín hiệu hiện có trên dây khác trong cùng một cáp, phản xạ tín hiệu, can nhiễu tần số vô tuyến và nhiễu xung. Lâm Quang Trung 11 Cao Học K8Đ 2001-2003 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn thạc sỹ XÂY DỰNG MẠNG ADSL TẠI HÀ NỘI Cơ sở hạ tầng dùng cặp dây xoắn được nối tới mọi nhà và mọi địa điểm trên toàn thế giới nhưng DSL cũng có những đòi hỏi khá khắt khe về chất lượng đối với cặp dây xoắn. Chính vì vậy, khoảng 15% các đường dây điện thoại trên toàn thế giới sẽ phải thay thế để có thể cho phép vận hành DSL tốc độ cao [15].2 : Mô hình tham chiếu DSL Điểm khác nhau căn bản giữa các modem băng tần thoại và DSL đó là các modem băng tần thoại vận hành qua một kết nối giữa hai đầu cuối của PSTN, trong khi đó, DSL vận hành qua mạch vòng nội hạt. Modem DSL tại các thuê bao sẽ kết nối trực tiếp với modem DSL của DSLAM, xem hình 1.
Đường trung kế sẽ kết nối trực tiếp các DSLAM tại các vệ tinh tới các DSLAM tại các tổng đài hoặc từ các DSLAM tổng đài tới thiết bị truy cập băng rộng (BRAS). Các đường trung kế này là các hệ thống truyền dẫn cáp quang số tốc độ cao, phục vụ truyền thông tin từ nhiều khách hàng.