Lời mở đầu. Cơ sở luận về các phương pháp đo lường thanh khoản tại ngân hàng thương mại. Các phương pháp đo lường thanh khoản tại Ngân Hàng TMCP Việt Á. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 Chương 4.
Hoàn thiện các phương pháp đo lường thanh khoản nhằm nâng cao hiệu quả quản trị thanh khoản tại Ngân Hàng TMCP Việt Á. Kết luận, hạn chế nghiên cứu và hướng nghiên cứu tiếp theo. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LUẬN VỀ CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐO LƯỜNG THANH KHOẢN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 2. Thanh khoản của ngân hàng thương mại: 2.
Khái niệm thanh khoản của ngân hàng thương mại: Theo Trần Huy Hoàng, 2010, trang 185: thanh khoản (liquidity) là khả năng tiếp cận các khoản tài sản hoặc nguồn vốn có thể dùng để chi trả với chi phí hợp lý ngay khi nhu cầu vốn phát sinh. Một nguồn vốn được gọi là có tính thanh khoản cao khi chi phí huy động thấp và thời gian huy động nhanh. Một tài sản được gọi là có tính thanh khoản cao khi chi phí chuyển hóa thành tiền thấp và có khả năng chuyển hóa ra tiền nhanh. Theo Trương Quang Thông, 2012, trang 108: thanh khoản là khả năng biến đổi một tài sản nào đó ra tiền mặt một cách nhanh chóng, với một chi phí thấp nhất có thể.
Một cách đầy đủ hơn, dựa vào cả hai tiếp cận từ tài sản và nguồn vốn, thanh khoản là khả năng tiếp cận các tài sản và nguồn vốn với một chi phí hợp lý để phục vụ các nhu cầu hoạt động khác nhau của ngân hàng. Một tài sản có tính thanh khoản cao khi chi phí chuyển đổi thành tiền thấp và thời gian chuyển đổi thành tiền nhanh, trong khi đó, nguồn vốn có tính thanh khoản cao khi chi phí huy động thấp và thời gian huy động nhanh.Rose, 1998, trang 413: một ngân hàng được xem là có khả năng thanh khoản tốt nếu như nó có thể có được những khoản vốn khả dụng với chi phí thấp đúng tại thời điểm ngân hàng có nhu cầu. Điều này gợi ý rằng, ngân hàng có khả năng thanh khoản tốt khi ngân hàng có trong tay một lượng vốn khả dụng với quy mô hợp lý hoặc ngân hàng có thể nhanh chóng huy động vốn thông qua con đường vay nợ hoặc bán tài sản. Cung, cầu thanh khoản và trạng thái thanh khoản: a) Theo Peter S.Rose, 1998, trang 414: Yêu cầu thanh khoản của một ngân hàng có thể được xem xét trong mô hình cung cầu.
Nguồn cầu thanh khoản gồm có: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Khách hàng rút tiền từ tài khoản Yêu cầu vay vốn từ khách hàng Thanh toán các khỏan vay phi tiền gửi Chi phí bằng tiền Thanh toán cổ tức bằng tiền Đối với hầu hết các ngân hàng, cầu thanh khoản chủ yếu bao gồm 2 yếu tố: (1) Khách hàng rút tiền từ tài khỏan và (2) Yêu cầu vay vốn từ khách hàng đáp ứng đủ điều kiện của ngân hàng, hoặc dưới hình thức một khoản vay mới, hoặc gia hạn lại hợp đồng tín dụng đến hạn hay rút vốn theo hạn mức. Hai yếu tố này quyết định phần lớn cầu thanh khoản của ngân hàng. Tuy nhiên, khi 2 nhu cầu này lên tới một mức độ nhất định chúng thường được giải quyết ngược nhau: nếu nhu cầu rút tiền của khách hàng khá lớn, ngân hàng sẽ giảm đáp ứng tín dụng và ngược lại khi phải đáp ứng nhu cầu cao của tín dụng thì ngân hàng sẽ tìm cách hạn chế khách hàng rút vốn. Việc thanh toán các khoản vay nợ từ ngân hàng khác hay vay từ NHNN cũng làm tăng cầu thanh khoản.
Tương tự, thanh toán thuế hoặc thanh toán cổ tức cũng làm tăng cầu về vốn khả dụng. Nguồn cung thanh khoản gồm có: Tiền gửi của khách hàng Thanh toán nợ vay của khách hàng Bán tài sản Doanh thu từ bán các dịch vụ phi tiền gửi Vay từ thị trường tiền tệ Trong các nguồn cung thanh khoản thì tiền gửi bổ sung trên tài khoản mới hoặc tài khoản hiện tại là quan trọng nhất. Dòng tiền này thông thường quyết định phần lớn quy mô tài sản của ngân hàng. Dòng tiền gửi vào ngân hàng thường có quy mô lớn vào đầu tháng và giữa tháng, khi tiền lương và các hóa đơn đã được thanh toán.
Ngoài ra, nguồn thanh toán nợ của khách hàng và nguồn thu từ việc bán tài sản cũng là bộ phận quan trọng của nguồn cung thanh khoản ngân hàng, nó đóng góp các nguồn vốn mới để đáp ứng yêu cầu thanh khoản. Nguồn cung thanh khoản LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 cũng được tạo ra từ doanh thu bán các dịch vụ tài chính và từ hoạt động vay nợ trên thị trường tiền tệ. Trạng thái thanh khoản: Nguồn cung và cầu thanh khoản là yếu tố quyết định trạng thái thanh khoản ròng (net liquidity position – NLP) của ngân hàng tại bất kỳ thời điểm nào. NLP của ngân hàng tại một thời điểm được xác định như sau: NLP = Tiền gửi của khách hàng + Thanh toán nợ vay của khách hàng + Bán tài sản + Doanh thu từ bán các dịch vụ phi tiền gửi + Vay từ thị trường tiền tệ - Khách hàng rút tiền từ tài khỏan - Yêu cầu vay vốn từ khách hàng - Thanh toán các khỏan vay phi tiền gửi - Chi phí bằng tiền - Thanh toán cổ tức bằng tiền Khi cầu về thanh khoản vượt qua cung thanh khoản (NLP < 0), việc thâm hụt thanh khoản xảy ra và lúc này phải xem nguồn vốn bổ sung sẽ lấy ở đâu và vào lúc nào.
Ngược lại, khi cung thanh khoản vượt quá cầu thanh khoản (NLP > 0), tình trạng thặng dư thanh khoản xuất hiện và nhà quản lý phải xem xét việc đầu tư các khoản thặng dư thanh khoản này có hiệu quả cho tới khi cần cho thanh khoản trong tương lai. Bản chất của công tác quản lý thanh khoản trong ngân hàng có thể được đúc kết cô đọng trong hai nội dung sau: - Rất hiếm khi tại một thời điểm tổng cầu thanh khoản bằng tổng cung thanh khoản. Do đó ngân hàng phải thường xuyên đối phó với thâm hụt thanh khoản hoặc thặng dư thanh khoản. - Giữa khả năng thanh khoản và khả năng sinh lời có sự đánh đổi.
Ngân hàng càng tập trung nhiều vốn để sẵn sáng đáp ứng yêu cầu thanh khoản thì khả năng sinh lời dự tính của nó càng thấp (trong điều kiện các yếu tố khác không đổi). b) Theo Trương Quang Thông, 2012, trang 110: - Cung thanh khoản: là nguồn cung cấp thanh khoản cho ngân hàng, bao gồm các khoản vốn làm tăng khả năng chi trả của ngân hàng như: Các khoản tiền ký thác; LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 Các khoản thu từ dịch vụ; Các khoản tín dụng hoàn trả; Các khoản vay từ thị trường tiền tệ; Các khoản bán tài sản. - Cầu thanh khoản: là các nhu cầu vốn làm giảm khả năng chi trả của ngân hàng bao gồm: Chi trả tiền gửi cho khách hàng; Cấp tín dụng cho khách hàng; Hoàn trả các khoản vay từ thị trường tiền tệ; Chi phí quản lý, chi phí dịch vụ; Chi trả cổ tức. Trạng thái thanh khoản ròng (NLP) = Cung thanh khoản - Cầu thanh khoản Có thể xảy ra 3 trường hợp sau đây: Trạng thái thanh khoản cân bằng: NLP = 0.
Điều này gần như khó có thể xảy ra trong thực tế. Thặng dư thanh khoản, khi NLP >0 Thiếu hụt thanh khoản, khi NLP <0 Thặng dư hay thiếu hụt đều diễn tả tình trạng mất cân bằng của ngân hàng. Trường hợp thặng dư thanh khoản thường xảy ra khi nền kinh tế hoạt động kém hiệu quả, thiếu những cơ hội đầu tư và kinh doanh. Thặng dư thanh khoản cũng xảy ra khi một ngân hàng thiếu những phương pháp và khả năng tiếp cận thị trường, khách hàng.
Các nguyên nhân khác gây ra thặng dư còn có: ngân hàng không khai thác hết những tài sản có khả năng sinh lời, hoặc nguồn vốn tăng trưởng quá nhanh so với quy mô hoạt động và khả năng quản lý. Các giải pháp, dù là mang tính chất tình thế để giải tỏa tình trạng thặng dư thanh khoản bao gồm: mua các chứng khoán (chính phủ) làm dự trữ thứ cấp, cho vay trên thị trường liên ngân hàng… Trong khi đó, thiếu hụt thanh khoản là việc ngân hàng không đủ vốn để hoạt động. Các hậu quả của thiếu hụt thanh khoản có thể gây ra những vấn đề trầm trọng hơn cho sự tồn tại và phát triển của ngân hàng như việc mất đi những cơ hội kinh doanh, mất khách LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 hàng, mất thị trường, làm sụt giảm lòng tin của công chúng… Các biện pháp bù đắp mang tính chất tình thế bao gồm: bán dự trữ thứ cấp, vay qua đêm trên thị trường liên ngân hàng, vay tái chiết khấu từ NHTW… Do vậy, việc đảm bảo khả năng thanh khoản hợp lý là một vấn đề không bao giờ kết thúc đối với hoạt động quản lý và nó luôn mang một ý nghĩa to lớn đối với khả năng sinh lời của ngân hàng. Quyết định về quản lý thanh khoản không thể được thực hiện biệt lập với các lĩnh vực hoạt động kinh doanh và các Phòng/Ban liên quan của ngân hàng.
Cơ sở luận về các phương pháp đo lường thanh khoản: 2. Phương pháp tiếp cận nguồn và sử dụng vốn: a) Theo Trần Huy Hoàng (Trần Huy Hoàng, 2010): Từ đầu năm, ngân hàng cần ước lượng nhu cầu thanh khoản của các tháng, quý trong năm. Bất cứ lúc nào khi nguồn tạo ra thanh khoản và nhu cầu sử dụng thanh khoản không cân bằng với nhau, ngân hàng có một độ lệch thanh khoản được xác định như sau: Độ lệch thanh khoản (Liquidity gap) = Tổng cung thanh khoản (1) - Tổng cầu thanh khoản (2) Hệ số này càng cao thì khả năng thanh khoản của ngân hàng càng cao. Khi (1) > (2) ngân hàng có một độ lệch thanh khoản dương, và phần thanh khoản thặng dư nhanh chóng phải được đầu tư vào những tài sản sinh lợi cho đến khi chúng được cần đến để trang trải nhu cầu tiền sau này.
Ngược lại, khi (1) < (2) ngân hàng có một độ lệch thanh khoản âm, trong trường hợp này ngân hàng cần phải gia tăng thanh khoản từ nhiều nguồn cung cấp sẵn có khác nhau một cách kịp thời và với chi phí rẻ nhất.