Chương 1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN, THỰC TIỄN 1. Tổng quan về tình hình nghiên cứu 1. Tình hình nghiên cứu về phép lặp và lặp ngữ pháp Theo đề xuất của Beaugrande i Dressler (1990) thì một văn bản cần hội tụ đủ các đặc trưng sau: tính liên kết (kohezja), tính mạch lạc (koherencja), tính chủ định (intencjonalnos’c’), tính chấp nhận được (akceptowalnos’c’), tính thông tin (informacyjnos’c’), tính tình huống (sytuacyjnos’c’), tính liên văn bản (intertekstualnos’c’). Chính vì vậy, văn bản được định nghĩa là “ một sự kiện giao tiếp đáp ứng được bảy tiêu chuẩn về tính văn bản” nói trên.
[ 40 ] Văn bản tiếng Việt hiện nay cũng được xem xét trên các bình diện đó. Khi các câu (phát ngôn) trong văn bản sử dụng các yêu tố ngữ âm (âm tiết, vần, phụ âm đầu, thanh điệu), các đơn vị từ vựng và yếu tố ngữ pháp (hư từ, cấu trúc ngữ pháp) để tạo tính liên kết, ta sẽ có phép lặp ngữ pháp. Vậy lặp là phương thức sử dụng các yếu tố nói trên lặp lại chúng trong những phát ngôn khác nhau nhằm tạo ra sự liên kết. Phép lặp là một trong các phương thức liên kết văn bản.
Ở đây, người ta lặp lại một cách có ý thức hai hay nhiều lần những đơn vị ngữ âm, từ, ngữ và cấu trúc nhất định. “Phép lặp có cơ sở là quy luật tâm lí, một vật kích thích nhiều lần sẽ làm cho người ta chú ý” [25, tr 93], một sự lặp lại nghệ thuật sẽ đem đến cho tác phẩm những hiệu quả nghệ thuật độc đáo. Mặc dù là sự lặp lại những yếu tố nhất định nhưng theo diễn tiến thời gian, phép lặp đem đến cho người đọc những ấn tượng mới mẻ, có tính chất tăng tiến. Phép lặp có tác dụng làm nổi bật và phát triển ý muốn trình bày, tình cảm muốn biểu hiện hoặc đối tượng muốn nói đến.
Dưới góc độ nghiên cứu khác nhau hiện tượng lặp được gọi tên, phân loại, và có sự khác biệt ở từng tác giả. Ở Việt Nam, có thể nêu khái quát những tác giả tiêu biểu đã đề cập đến hiện tượng lặp trong các công trình nghiên cứu của mình như sau: Trong cuốn “Phong cách học tiếng Việt”, các tác giả Đinh Trọng Lạc, Nguyễn Thái Hòa khi xem xét hiện tượng lă ̣p như một dạng của phương tiện tu từ cú pháp đã gọi phép lă ̣p là phép điệp. Các ông đã lần lượt tìm hiểu phép điệp ở các cấp độ ngôn ngữ và nhấn mạnh phép điệp không chỉ dựa vào một số phương tiện tu 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com từ cố định, tiếng Việt còn mở rộng cách nhấn nghĩa, tạo nghĩa mới bất ngờ, giàu màu sắc tu từ học. Về phép điệp, ở phương diện tu từ các tác giả nghiên cứu phần điệp ngữ.
Khi trình bày các biện pháp tu từ cú pháp, các tác giả đề cập đến phép dùng cú pháp sóng đôi (điệp cú pháp). Ở cấp độ ngữ âm, các tác giả chỉ ra biện pháp điệp âm (điệp phụ âm đầu, điệp vần, điệp thanh). Ở mọi dạng thức, các tác giả đã tìm hiểu, trình bày cụ thể, hệ thống và làm sáng tỏ về phép điệp ở các cấp độ. Đặc biệt, tác giả đã đề cập đến trường hợp “điệp khúc là một phương thức ở cấp độ văn bản”.
Trong cuốn “99 phương tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt”, tác giả Đinh Trọng Lạc tìm hiểu và chia điệp ngữ thành một số kiểu (điệp ngữ nối tiếp, điệp ngữ cách quãng, điệp ngữ vòng tròn). Ở cấp độ “trên ngữ”, tác giả trình bày về sóng đôi cú pháp. Còn ở cấp độ tu từ cú pháp thì tác giả nghiên cứu thêm phần lặp đầu, lặp cuối. Tác giả đã đi sâu vào việc phân tích cụ thể, chi tiết về phép điệp cũng như phạm vi sử dụng, giá trị của chúng trong hệ thống ngôn ngữ nghệ thuật [25, tr 93-94].
Trong cuốn “Phong cách học và các phong cách chức năng tiếng Việt”, tác giả Hữu Đạt đã tìm hiểu giá trị phong cách của một số kiểu điệp từ, ngữ trong tiếng Việt. Tác giả không đi vào khảo sát phép điệp ở cấp độ ngữ âm mà chỉ dừng lại ở cấp độ từ (điệp từ) và ngữ (điệp ngữ). Tác giả cũng đề cập đến phép lặp cú pháp với hai dạng thức: lặp lại một thành phần cú pháp trong câu (lặp lại thành phần chủ ngữ, lặp lại thành phần vị ngữ) và lặp mô hình câu [9, tr 320]. Trong cuốn “Phong cách học và đặc điểm tu từ tiếng Việt”, tác giả Cù Đình Tú đề cập đến các cách tu từ được cấu tạo theo quan hệ tổ hợp trong đó có phép điệp.
Tác giả chỉ khảo sát phép điệp ở cấp độ từ, ngữ, kiểu câu với tên gọi chung là “điệp từ ngữ”. Tác giả đã đưa ra các dạng thức của điệp từ ngữ bao gồm: điệp từ ngữ nối tiếp, điệp từ ngữ cách quãng, và điệp kiểu câu. Nhưng trong phần khảo sát đặc điểm tu từ tiếng Việt, tác giả không tách “điệp cú pháp” ra tìm hiểu riêng như các tác giả khác. Trong phần nghiên cứu, tác giả còn chỉ ra cách “ điệp phô diễn” được hiểu “Là sự mở rộng của điệp kiểu câu, trong đó sự diễn đạt được trình bày tuy dưới những dạng thức khác nhau nhưng điều xoay quanh một chủ đề” [38, tr 199] và chức năng, phạm vi sử dụng và cơ sở tâm lý của phép điệp.
6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trong cuốn “Giáo trình cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt”, tác giả Bùi Tất Tươm cũng tìm hiểu phép điệp một cách cụ thể ở một số khía cạnh. Tác giả đã đưa ra khái niệm và phân tích giá trị tu từ của phép điệp. Dựa vào qui mô của yếu tố lặp, tác giả chia phép điệp thành hai loại: điệp ngữ, điệp cấu trúc và sóng đôi cú pháp. Ở hình thức điệp ngữ, tác giả phân loại theo hai hướng khác nhau: dựa vào vị trí của các yếu tố lặp (điệp ngữ đầu câu, điệp ngữ giữa câu, điệp ngữ cuối câu), dựa theo chức năng của yếu tố điệp (điệp chủ ngữ, điệp vị ngữ, điệp bổ ngữ).
Còn ở các biện pháp tu từ cấu tạo theo quan hệ tổ hợp ngữ âm, tác giả đề cập đến điệp âm bao gồm điệp phụ âm đầu, điệp vần, điệp thanh. Trong “Hệ thống liên kết văn bản tiếng Việt” của Trần Ngọc Thêm định nghĩa “phép lặp là một phương thức liên kết thể hiện ở việc lặp lại trong kết ngôn những yếu tố đã có ở chủ ngôn” [43, tr 87]. Định nghĩa này được nhiều tác giả đồng tình. Từ góc độ ngữ pháp văn bản, tác giả phân loại phép lặp thành ba dạng: lặp từ vựng, lặp ngữ âm, lặp ngữ pháp.
Ở mỗi dạng, tác giả đi sâu vào phân tích, khái quát các hình thức, phạm vi sử dụng và giá trị của chúng. Đồng thời, giữa các dạng thức, tác giả đã có sự lồng ghép đối chiếu, so sánh để thấy được sự khác biệt và các giá trị khu biệt của chúng. Đề cập đến phép lặp ngữ pháp (một kiểu lặp liên kết), Trần Ngọc Thêm quan niệm “phép lặp ngữ pháp là một dạng của phương thức lặp thể hiện ở việc lặp lại trong kết ngôn cấu trúc của chủ ngôn và có thể lạp lại một số hư từ mà chủ ngôn sử dụng” [43, tr 93]. Theo tác giả, lặp ngữ pháp gồm có hai mức độ: lặp cú pháp ( lặp cấu trúc phát ngôn) và lặp từ cú pháp (các hư từ) trong đó lặp cú pháp là cơ bản [43, tr 94].
Trong cuốn “Văn bản và liên kết văn bản”, khi tìm hiểu phép lặp với tư cách là một phương tiện liên kết, Diệp Quang Ban đưa ra ba dạng: lặp từ vựng, lặp ngữ pháp và lặp ngữ âm. Xét ở mức độ gần nghĩa đến xa nghĩa, phép lặp chia thành các dạng: nhắc lại, đồng nghĩa và gần đồng nghĩa, từ ngữ trên bậc, từ ngữ khái quát. Tuy nhiên, tác giả cũng chỉ điểm sơ qua chứ chưa đi vào phân tích cụ thể, chi tiết. [1, tr 123] Qua khảo sát những tài liệu nói trên, chúng tôi nhận thấy các tác giả đã chú trọng đến việc xác định khái niệm, phân loại và tìm ra giá trị của các phép liên kết nói chung và phép lặp trong đó có lặp ngữ pháp nói riêng.
Theo đó, khái niệm lặp và lặp ngữ pháp được hiểu khá rộng với nhiều ý kiến, quan niệm khác nhau. Đây là cơ sở lý luận vô cùng quan trọng để luận văn có thể tham khảo trước khi đi vào nghiên cứu về phương thức lặp trong thơ Tố Hữu. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Tình hình nghiên cứu về thơ Tố Hữu Trong suốt mấy chục năm qua, thơ Tố Hữu đã trở thành một hiện tượng, một đối tượng nghiên cứu lớn của giới học thuật, thu hút hầu hết các nhà nghiên cứu, phê bình tên tuổi trong cả nước như: Hoài Thanh, Hà Minh Đức, Trần Đình Sử, Lê Đình Kỵ và các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng như: Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Nguyễn Đình Thi.
Rất nhiều công trình nghiên cứu về thơ Tố Hữu ở các phương diện văn học, thi pháp, phong cách, thể tài, ngôn ngữ.Do đó, giá trị thơ của Tố Hữu ngày càng được khẳng định. Thơ Tố Hữu cũng là đề tài nghiên cứu của nhiều học viên, sinh viên chuyên ngành ngôn ngữ học. Có thể kể đến một số nghiên cứu về thơ Tố Hữu: + Lê Anh Hiền (1976), "Về cách dùng tính từ chỉ màu sắc của Tố Hữu", Ngôn ngữ, (4), tr. + Xuân Nguyên (1991), "Từ địa phương miền Trung trong thơ Tố Hữu", Sông Hương, (10), tr.
+ Nguyễn Thị Bích Thúy (2005), Tổ chức lời thơ trong thơ Tố Hữu ( So sánh với đồng hiện tượng trong thơ Huy Cận) Luận án Tiến sĩ ngữ văn, Viện KHXH vùng Nam Bộ, TP. + Trần Thị Tính (2005), Ngôn từ trong thơ Tố Hữu (nhìn từ bình diện từ vựng), luận văn thạc sĩ, ĐHSPTPHCM. + Phạm Thị Thùy Dương (2008), Từ địa phương trong thơ Tố Hữu, luận văn thạc sĩ, ĐHSP-ĐHTN. + Nguyễn Huệ Yên (2008) Ẩn dụ tu từ trong thơ Tố Hữu, luận văn thạc sĩ, ĐHSP-ĐHTN + Nguyễn Thị Thúy Hồng (2010), Tính hội thoại trong thơ Tố Hữu, luận văn thạc sĩ, ĐHSP-ĐHTN.
+ Lê Thị Hoàn (2011) Đối trong thơ Tố Hữu, luận văn thạc sĩ, ĐHSP-ĐHTN. + Vũ Thị Lệ Tuyết (2012), Từ ngữ xưng gọi trong thơ Tố Hữu, luận văn thạc sĩ, ĐHSP-ĐHTN. + Lê Thị Nhường. Cách sử dụng tính từ trong thơ Tố Hữu.
Luận văn tốt nghiệp, số 244 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Về mặt ngôn ngữ, thơ Tố Hữu cũng được giới nghiên cứu chú ý. Tuy nhiên, về phương diện liên kết chưa được chú ý nhiều.