chương 1 của luận văn còn nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển tín dụng để có cái nhìn sơ bộ về cơ sở lý thuyết cho luận văn. Tín dụng ngân hàng thương mại 1. Khái niệm tín dụng ngân hàng thương mại NHTM còn được gọi là ngân hàng ký thác, là hình thái ngân hàng ra đời sớm nhất, gắn liền với sự xuất hiện của hoạt động ngân hàng. Hoạt động của ngân hàng này rất đa dạng và tổng hợp nhiều nghiệp vụ, nhiều dịch vụ, nhưng chủ yếu là nhận tiền gửi của công chúng và thực hiện nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, kinh doanh tiền tệ và các hoạt động khác (Lê Thị Tuyết Hoa & Đặng Văn Dân, 2017).
Hiện nay các NHTM không chỉ thực hiện các nghiệm vụ ngắn hạn mà còn thực hiện các nghiệp vụ trung và dài hạn. Tuy nhiên, NHTM vẫn tập trung nhiều vào nghiệp vụ huy động vốn và cho vay ngắn hạn, thực hiện các nghiệp vụ của ngân hàng bán lẻ, thực hiện dịch vụ thanh toán và các dịch vụ ngân hàng khác. Có thể nói, NHTM là một doanh nghiệp đặc biệt, chuyên kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ và các hoạt động ngân hàng vì mục tiêu lợi nhuận. NHTM hoạt động trong lĩnh vực tiền tệ tín dụng và dịch vụ ngân hàng và được gọi là một định chế tài chính đặc biệt của nền kinh tế thị trường.
Theo Nguyễn Đăng Dờn et al. (2013) thì NHTM là loại ngân hàng giao dịch trực tiếp với các công ty, xí nghiệp, tổ chức kinh tế và cá nhân, bằng cách nhận tiền gửi, tiền tiết kiệm, rồi sử dụng số vốn đó để cho vay, chiết khấu, cung cấp các phương tiện thanh toán và cung ứng dịch vụ ngân hàng cho các đối tượng nói trên. 1 Theo luật các tổ chức tín dụng (2010), NHTM là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận. Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng giữa ngân hàng với các chủ thể khác trong xã hội.
Ngân hàng là một định chế tài chính trung gian, do vậy trong quan hệ tín dụng với các chủ thể kinh tế khác ngân hàng có thể vừa là người đi vay, vừa là người cho vay (Lê Thị Tuyết Hoa & Đặng Văn Dân, 2017). Theo Nguyễn Minh Kiều (2007), tín dụng ngân hàng thương mại là quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ ngân hàng thương mại cho khách hàng trong một thời gian nhất định với một khoản chi phí nhất định. Theo luật các tổ chức (2010), tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác. Như vậy, khái niệm tín dụng NHTM có thể diễn đạt bằng nhiều cách khác nhau nhưng nội dung cơ bản đều phản ánh mối quan hệ vay mượn giữa ngân hàng với tất cả các cá nhân, tổ chức và các doanh nghiệp khác trong xã hội được ràng buộc bởi cơ chế tín dụng và pháp luật hiện tại.
Tín dụng NHTM cũng mang bản chất chung của quan hệ tín dụng, đó là quan hệ vay mượn có hoàn trả cả vốn và lãi sau một thời gian nhất định, là quan hệ chuyển nhượng tạm thời quyền sử dụng vốn và là quan hệ bình đẳng cả hai bên cùng có lợi. Vai trò của tín dụng ngân hàng thương mại Đối với chủ thể vay vốn (tổ chức, cá nhân) Tín dụng NHTM là nguồn tài trợ giúp chủ thể vay vốn có điều kiện mở rộng quy mô sản xuất, mở rộng thị trường. Tín dụng NHTM giúp cho khách hàng linh hoạt hơn trong việc giải quyết nhu cầu vốn của mình. Thay vì bế tắc phải tìm đến những khoản tín dụng đen, lãi suất cao ngất ngưỡng thì khách hàng có thể an tâm vay vốn từ những ngân hàng uy tín với lãi suất và thời hạn vay hợp lý.
1 Là cầu nối giữa tiết kiệm và đầu tư, là động lực kích thích tiết kiệm đồng thời là phương tiện cung cấp vốn cho đầu tư phát triển, tín dụng NHTM tạo điều kiện cho các cá nhân, doanh nghiệp vay vốn đổi mới công nghệ, dây chuyền sản xuất, thay đổi cơ cấu sản xuất. Từ đó, tiết kiệm được phần nào chi phí, giảm giá thành, nâng cao năng lực cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường cũng như giúp chủ thể vay vốn thích nghi với các đặc thù doanh nghiệp, tạo điều kiện kinh doanh có hiệu quả. Tín dụng NHTM là trợ thủ đắc lực giúp chủ thể vay vốn có đủ nguồn vốn để nắm bắt cơ hội sản xuất kinh doanh trên thị trường. Đối với nền kinh tế - Tín dụng NHTM góp phần thu hút số tiền nhàn rỗi trong xã hội và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn: với chức năng dẫn vốn từ chủ thể thừa vốn sang chủ thể thiếu vốn, tín dụng NHTM góp phần thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung vốn, điều hòa lượng cung cầu trong nền kinh tế, giúp nền kinh tế phát triển theo chiều rộng và chiều sâu.
- Tín dụng NHTM góp phần thúc đẩy sản xuất lưu thông hàng hóa phát triển: trong nền sản xuất hàng hóa, tín dụng là một trong những nguồn hình thành vốn lưu động và vốn cố định của các doanh nghiệp, vì vậy tín dụng đã góp phần động viên vật tư hàng hóa đi vào sản xuất, thúc đẩy tiến bộ khoa học kỹ thuật đẩy nhanh quá trình tái sản xuất xã hội. - Tín dụng NHTM là đòn bẩy kinh tế quan trọng thúc đẩy quá trình mở rộng quan hệ lưu thông hàng hoá quốc tế: trong xu thế toàn cầu hóa, sự hợp tác kinh tế trên nguyên tắc bình đẳng đôi bên cùng có lợi, hiện tượng đầu tư vốn ra nước ngoài và kinh doanh xuất nhập khẩu hàng hoá là lĩnh vực hợp tác kinh tế quốc tế thông dụng. Thông qua quá trình nhận và cho vay tài trợ xuất nhập khẩu của các nước, trực tiếp tham gia vào các quan hệ thanh toán quốc tế, tín dụng ngân hàng làm tăng mối quan hệ tốt đẹp giữa các nước, đồng thời thúc đẩy hoạt động xuất nhập khẩu, thúc đẩy sản xuất trong nước phát triển, tăng trưởng kinh tế. 1 - Tín dụng NHTM có vai trò quan trọng trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển các ngành công nghiệp mũi nhọn, góp phần chống lạm phát tiền tệ: tín dụng NHTM là công cụ để nhà nước điều tiết sản xuất, điều chỉnh chiến lược kinh tế, phân công lao động xã hội.
Từ đó, tín dụng NHTM góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển các ngành công nghiệp mũi nhọn là chủ trương chung của Đảng và nhà nước, góp phần phát triển khoa học công nghệ, tạo công ăn việc làm, sắp xếp và tổ chức lại sản xuất, hình thành cơ cấu kinh tế hợp lý, ổn định lạm phát, nâng cao đời sống dân cư, phát triển lực lượng lao động. Đối với ngân hàng thương mại Tín dụng là hoạt động mang lại lợi nhuận chủ yếu của ngân hàng. Thông qua các nghiệp vụ tạo nguồn vốn dưới hình thức tài khoản vãng lai, tài khoản tiền gửi, ngân hàng tiến hành các hoạt động tín dụng khác nhau: chiết khấu, bảo lãnh, cho vay…tùy theo yêu cầu của khách hàng để tìm kiếm chênh lệch giữa tiền lãi kiếm được thông qua hoạt động cho vay và tiền lãi phải trả cho khách hàng tiền gửi hay phí dịch vụ bảo lãnh để tạo lợi nhuận mình. Phân loại tín dụng ngân hàng thương mại Có rất nhiều cách phân loại tín dụng NHTM dựa vào các căn cứ khác nhau tuỳ theo mục đích nghiên cứu.
Theo Bùi Diệu Anh, Hồ Diệu và Lê Thị Hiệp Thương (2009), tín dụng của ngân hàng thương mại được phân loại như sau: Căn cứ vào mục đích tín dụng Tín dụng sản xuất kinh doanh: ngân hàng cung cấp tín dụng nhằm đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh của các chủ thể trong nền kinh tế trên mọi lĩnh vực: công nghiệp, nông nghiệp, thương nghiệp, giao thông vận tải, bưu điện, dịch vụ,… Tín dụng tiêu dùng: ngân hàng cấp tín dụng nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của các cá nhân như mua sắm các vật dụng đắt tiền, cho vay để trang trải các chi phí của đời sống, cho vay thông thường qua phát hành thẻ tín dụng,… Căn cứ vào thời hạn tín dụng 1 Mỗi quốc gia, quy định thời hạn tương ứng với các loại tín dụng có thể khác nhau. Ở Việt Nam, theo Ngân hàng Nhà nước (2016), tín dụng ngân hàng gồm các thời hạn như sau: Tín dụng ngắn hạn: là hình thức tín dụng ngân hàng có thời hạn tối đa đến 12 tháng. Tín dụng ngắn hạn sử dụng chủ yếu để bù đắp nhu cầu vốn lưu động tạm thời thiếu của các doanh nghiệp và nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của các cá nhân. Tín dụng trung hạn: là loại tín dụng của ngân hàng với thời hạn trên 12 tháng đến 60 tháng (5 năm).
Tín dụng dài hạn: là loại tín dụng của ngân hàng với thời hạn trên 5 năm. Cho vay trung và dài hạn nhằm bù đắp thiếu hụt vốn trung, dài hạn phục vụ mua sắm tài sản cố định, xây dựng nhà xưởng,… Căn cứ vào bảo đảm tín dụng Tín dụng không bảo đảm: ngân hàng cấp tín dụng dựa trên cơ sở uy tín, tín nhiệm bản thân khách hàng vay. Người đi vay không cần bất cứ một sự bảo đảm nào bằng tài sản hoặc sự bảo lãnh của bên thứ ba. Như vậy, người đi vay đã bảo đảm cho khoản tín dụng bằng chính uy tín của họ.
Tín dụng có bảo đảm: ngân hàng cấp tín dụng dựa trên cơ sở phải có sự bảo đảm bằng tài sản của người đi vay hoặc có sự bảo lãnh của chủ thể thứ ba. Tài sản đảm bảo hoặc chủ thể bảo lãnh trong quan hệ tín dụng chính là nguồn thu nợ thứ hai của ngân hàng. Căn cứ vào hình thức tín dụng Tín dụng bằng tiền: Là loại hình tín dụng của ngân hàng mà hình thức vốn tín dụng được thực hiện bằng tiền tệ. Ngân hàng cấp tín dụng bằng tiền và người đi vay cũng trả nợ bằng tiền.
Tín dụng bằng tài sản: là loại hình tín dụng của ngân hàng mà hình thức vốn tín dụng được thể hiện bằng tài sản. Ngân hàng cấp tín dụng bằng tài sản và người đi vay trả nợ bằng tiền (ví dụ như hình thức tín dụng thuê mua).