CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN TÍN DỤNG CÁ NHÂN TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Tổng quan về tín dụng 1. Khái niệm tín dụng Theo Nguyễn Minh Kiều thì “Tín dụng ngân hàng là quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ ngân hàng cho khách hàng trong một thời hạn nhất định với một khoản chi phí nhất định”. ( Nguyễn Minh Kiều, 2009, Trang 96) Theo Mác, tín dụng là sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị từ người sở hữu sang người sử dụng trong một khoảng thời gian nhất định, khi đến hạn, người sử dụng phải hoàn trả một lượng giá trị lớn hơn giá trị ban đầu.
Với vai trò là trung gian tài chính, các NHTM đứng ra huy động nguồn vốn nhàn rỗi từ những người dư thừa vốn, đồng thời phân phối lại cho những người cần vốn trong xã hội. Quan hệ tín dụng ngân hàng là quan hệ chuyển nhượng tài sản (vốn) giữa ngân hàng và các chủ thể khác trong nền kinh tế, trong đó ngân hàng đóng vai trò vừa là người đi vay, vừa là người cho vay. Theo khoản 14, điều 4 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 đã được Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam thông qua thì “Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác”. Có nhiều cách định nghĩa về tín dụng ngân hàng, nhưng nhìn chung, tín dụng ngân hàng hàm chứa ba nội dung: - Có sự chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ người sở hữu sang người sử dụng vốn; - Sự chuyển nhượng này có thời hạn và hoàn trả; - Sự chuyển nhượng này có kèm theo chi phí và rủi ro.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Bản chất của tín dụng Qua khái niệm trên cho thấy trong quan hệ tín dụng, người cho vay chỉ nhượng lại quyền sử dụng vốn cho người đi vay trong một thời hạn nhất định. Do người đi vay không có quyền sở hữu số vốn ấy nên phải hoàn trả lại cho người cho vay khi đến thời hạn đã thỏa thuận. Việc hoàn trả này không chỉ là sự bảo tồn về mặt giá trị mà vốn tín dụng còn được tăng thêm dưới hình thức lợi tức.
Ở đây, quá trình vận động mang tính chất hoàn trả của tín dụng là biểu hiện đặc trưng nhất sự khác biệt giữa quan hệ tín dụng và các mối quan hệ kinh tế khác. Tín dụng cá nhận tại các ngân hàng thương mại 1. Khái niệm tín dụng cá nhân Trên cơ sở định nghĩa “Tín dụng ngân hàng” có thể hiểu “Tín dụng cá nhân chính là việc ngân hàng giao cho khách hàng là cá nhân hay hộ gia đình một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời hạn nhất định theo thỏa thuận và nguyên tắc có hoàn trả gốc và lãi. Những mục đích vay vốn của cá nhân, hộ gia đình có thể là mua sắm, sữa chữa nhà cửa, chi tiêu hàng ngày, chi cho giáo dục, phát triển việc kinh doanh nhỏ lẻ của ngân hàng.
Trên thế giới, tín dụng cá nhân đã phát được phát triển mạnh mẽ từ đầu những năm 80 của thế kỷ XX. Các ngân hàng không chỉ giới hạn hoạt động cấp tín dụng đối với các khách hàng doanh nghiệp, mà đã chú trọng hơn nhiều đến các khách hàng cá nhân. Ở Việt Nam, cho vay với các khách hàng cá nhân chỉ bắt đầu từ những năm 1993-1994, thời gian đầu chỉ tập trung vào cho vay trả góp, các sản phẩm cung ứng còn đơn điệu. Những năm gần đây, cho vay cá nhân đang có xu hướng nở rộ cùng với sự phát triển của kinh tế xã hội thời kì mở cửa và hội nhập.
Với thị trường rộng lớn (khoảng 89 triệu dân), mà chủ yếu là dân số trẻ, với mức thu nhập ngày càng cao và phong cách sống hiện đại, nhu cầu tiêu chi tiêu nhiều mục đích. Hiện nay xu hướng tiêu dùng trước, trả sau để đáp ứng nhu cầu chi tiêu cho cuộc sống tăng nhanh, nhất là ở các thành phố lớn. Chính vì thế, các sản phẩm tín LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 dụng cá nhân của ngân hàng được khách hàng rất quan tâm. Đây là cơ sở để các ngân hàng tự tin đẩy mạnh mảng kinh doanh của tín dụng này.
Đặc điểm của tín dụng cá nhân Tín dụng cá nhân là loại hình của tín dụng, vì vậy nó mang những đặc điểm chung của tín dụng: - Thứ nhất, tín dụng tồn tại trên cơ sở lòng tin. Ngân hàng chỉ cấp tín dụng cho khách hàng, cá nhân hay doanh nghiệp, khi có lòng tin vào việc khách hàng sẽ sử dụng vốn vay đúng mục đích đã cam kết trong hợp đồng tín dụng, hiệu quả và có khả năng trả nợ (gốc và lãi) đúng hạn. - Thứ hai, tín dụng là việc chuyển nhượng một lượng giá trị có thời hạn. Ngân hàng là trung gian tài chính, vừa đóng vai trò là người đi vay, vừa là người cho vay.
Nguồn vốn ngân hàng sử dụng để cho vay được lấy từ nguồn vốn huy động, do vậy, tất cả các khoản tín dụng ngân hàng cấp cho khách hàng đều phải có thời hạn, đảm bảo cho ngân hàng có thể hoàn trả vốn huy động. Để xác định thời hạn cho vay hợp lý, ngân hàng phải căn cứ vào tính chất thời hạn nguồn vốn của mình và quá trình luân chuyển vốn của đối tượng cho vay. Nếu nguồn vốn của ngân hàng ổn định thì thời hạn cho vay có thể dài hơn; và ngược lại, nếu vốn của ngân hàng không ổn định và kì hạn ngắn, ngân hàng chỉ có thể cho vay với thời hạn ngắn để đảm bảo khả năng thanh toán. Đồng thời, thời hạn vay phải phù hợp với chu kỳ luân chuyển vốn của đối tượng vay.
Nếu thời hạn cho vay nhỏ hơn chu kỳ luân chuyển vốn của người đi vay, khi đó đến kì trả nợ mà khách hàng vẫn chưa có nguồn để trả nợ, gây khó khăn cho khách hàng. Nhưng nếu thời hạn vay dài hơn chu kỳ luân chuyển vốn, khách hàng rất có thể sẽ sử dụng vốn vay không đúng mục đích vay mà ngân hàng khó có thể kiểm soát được, gây nhiều rủi ro cho ngân hàng.Đối với khách hàng cá nhân, thời hạn vay thường là ngắn và trung hạn vì các khoản vay thường nhỏ, nhằm trang trải cho các nhu cầu tiêu dùng cần thiết. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 - Thứ ba, tín dụng là việc ngân hàng cấp một khoản giá trị cho người có nhu cầu về vốn và có quyền được nhận lại đầy đủ cả gốc và lãi khi đến hạn (tính bắt buộc hoàn trả). Đây là một điều khá hiển nhiên bởi khi quyết định cho vay, tức nguồn vốn của ngân hàng sẽ bị chiếm dụng trong một khoảng thời gian nhất định.
Đổi lại, ngân hàng xứng đáng được hưởng phần lãi tương ứng, bù đắp vào chi phí cơ hội cũng như nhận lại phần gốc để đảm bảo khả năng thanh khoản. Tuy nhiên, hoàn trả đúng hạn cũng là một vấn đề nan giải, phức tạp và chứa đựng những rủi ro nhất định. Điều này tùy thuộc vào quá trình thẩm định trước khi cho vay cũng như tình hình chu chuyển của dòng vốn nằm trong tay người đi vay. Nếu quá trình thẩm định được thực hiện đúng quy trình, đưa ra kết quả tương đối xác thực, tính đảm bảo hoàn trả nợ đúng thời hạn sẽ ở mức cao.
Bên cạnh đó, nếu các chủ thể vay vốn làm ăn có lãi, họ xoay sở được đồng vốn, nguồn tiền của họ quay vòng đúng theo chu kì dự tính, họ sẽ trả nợ đúng hạn. Ngược lại, khi họ làm ăn thua lỗ, chu kì vòng quay của nguồn vốn lớn hơn thời hạn được vay, việc trả được nợ lại trở thành điều không đơn giản. Đây chính là một trong những vấn đề mà các ngân hàng luôn tìm cách hạn chế đến mức tối đa: rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản. Ngoài mang những đặc điểm vốn có của phạm trù tín dụng, tín dụng cá nhân cũng bao hàm trong nó những đặc điểm riêng (giúp phân biệt với các mảng nghiệp vụ khác như tín dụng sản xuất đối với doanh nghiệp nhà nước, công ty trách nhiệm hữu hạn…) về các mặt như sau: - Quy mô mỗi khoản vay nhỏ, số lượng các khoản vay lớn: Khách hàng cá nhân thường có hai mục đích vay: - Thứ nhất là cá nhân, hộ gia đình vay để bổ sung vốn kinh doanh.
Quyền hoạt động sản xuất kinh doanh của cá nhân, hộ gia đình được pháp luật thừa nhận, nhưng do năng lực hạn chế nên hoạt động kinh doanh thường không có quy mô lớn. - Thứ hai là cá nhân vay đáp ứng nhu cầu vốn để tiêu dùng. Khoản vay cá nhân cho mục đích này trực tiếp phục vụ cho nhu cầu chi tiêu cho cuộc sống như mua nhà đất, mua sắm vật dụng gia đình, xây dựng, sửa chữa nhà, du học… LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 Số tiền cho vay hai mục đích này đều bị giới hạn bởi những điều kiện từ ngân hàng đó là: tính hợp lý của nhu cầu vốn, khả năng trả nợ và tài sản đảm bảo. Tuy nhiên, số lượng các khoản tín dụng cá nhân là rất lớn do hai nguyên nhân: Số lượng khách hàng cá nhân đông do đối tượng của loại hình cho vay này là mọi cá nhân trong xã hội, từ những người có thu nhập cao đến những người có thu nhập trung bình và thấp.
Nhu cầu tín dụng phong phú và đa dạng của khách hàng cá nhân, vì khi chất lượng cuộc sống và trình độ dân trí được nâng cao, người dân càng có nhu cầu vay ngân hàng để cải thiện và nâng cao mức sống. - Tín dụng cá nhân thường dẫn đến các rủi ro: Rủi ro do thông tin bất cân xứng Khi thẩm định cho vay thì thông tin về bản thân khách hàng là một trong những yếu tố quan trọng để ngân hàng đưa đến quyết định cho vay, bên cạnh tính hợp lý và hợp pháp của nhu cầu vốn, khả năng trả nợ và tài sản đảm bảo.